vanban.org

Bản án 55/2021/DSPT — Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 09/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ông Nguyễn Kim T, sửa bản án sơ thẩm đối với phần tuyên xử về án phí.

Đình chỉ ½ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị T. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của Bà Nguyễn Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T và Bị đơn: Ông Nguyễn Kim T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ông Nguyễn Kim T, sửa bản án sơ thẩm đối với phần tuyên xử về án phí.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/DSPT
Ngày: 09/4/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng gửi giữ
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Ông Trần Văn Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc -Thư ký TAND tỉnh BN.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 51/2021/TLPT- DS ngày 25/01/2021 về “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện QV, tỉnh BN bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 56/2021/QĐ-PT, ngày 23/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962. (Vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1965. (Vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965. (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã Việt H, huyện QV, tỉnh BN.

Người có kháng cáo: Ông Nguyễn Kim T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn là Bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà với Ông T, bà D chỉ có quan hệ là người cùng làng, gia đình Ông T làm kinh doanh kho lạnh. Hàng năm gia đình bà đều gửi khoai tây giống ở kho lạnh của nhà Ông T, những năm trước không năm nào khoai bị hỏng. Đến vụ khoai năm 2019 sau khi lấy khoai từ kho lạnh nhà Ông T về thì khoai lại bị hỏng hết không trồng được. Trước đó, khoảng tháng 02/2019 gia đình nhà bà có mang 252 kg khoai giống đến gửi kho lạnh nhà Ông T, khoai bà gửi là khoai xuân, theo thỏa thuận thì Ông T nhận gửi khoai với giá 2.400đ/kg. Đến ngày 20/9/2019 gia đình đến lấy khoai về nhưng chưa thanh toán tiền gửi cho nhà Ông T. Sau khi lấy khoai về được mấy hôm thì gia đình bà đổ bao tải khoai ra để kiểm tra lọc bỏ những củ khoai hỏng bỏ đi, nhưng khi kiểm tra thì phát hiện ra toàn bộ số khoai đều có hiện tượng cứng như đá, bổ thử ra thì bên trong thấy có củ thì rỗng, có củ khoai đặc nhưng ruột bị đen. Theo Bà T nguyên nhân khoai hỏng là do kho máy lạnh nhà Ông T, vì trong quá trình giữ khoai kho máy lạnh nhà Ông T bị hỏng. Sau khi phát hiện ra khoai hỏng như vậy, bà đã đến gặp vợ chồng Ông T và bà D để nói chuyện về việc khoai nhà bà bị hỏng hết. Khi bà nói vậy Ông T bảo cứ để sau mang đi kiểm nghiệm xem thế nào. Nhưng sau đó cũng không thấy vợ chồng Ông T đến kiểm tra khoai, khi gặp ngoài đường thì có ý tránh mặt. Nên thời điểm đó hai bên cũng chưa thống nhất được cụ thể về việc giải quyết thế nào, khoai hỏng bao nhiêu, tại sao hỏng và bồi thường thế nào. Mấy ngày sau Ông T có thông báo cho mọi người đến nhà để họp bàn về giải quyết việc khoai bị hỏng vì năm nay rất nhiều người gửi khoai nhà Ông T đều bị hỏng như nhà bà. Nhưng Ông T lại không gọi bà đến để giải quyết. Sau đó nhà bà phải đi mua khoai giống khác với giá 16.000đ/kg, nhà bà trồng hơn một mẫu khoai nên phải mua khoảng 300kg để trồng.

Bà được biết Ông T sau đó mang khoai đi xét nghiệm nguyên nhân thối là do nấm và vi khuẩn, nhưng Ông T lấy khoai ở đâu đi xét nghiệm bà không biết, không có ai trong số những người có khoai hỏng đi cùng. Nên Bà T không nhất trí kết quả xét nghiệm Ông T cung cấp cho Tòa án.

Quan điểm của bà là nhà Ông T phải bồi thường cho bà số khoai giống bị hỏng là 252kg x 16.000đ/kg = 4.032.000đ (Bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng). Trong đơn khởi kiện, trong bản khai ghi 253kg là do bà nhớ nhầm.

Tại phiên tòa, Bà T chỉ buộc vợ chồng Ông T phải bồi thường ½ số khoai tây giống đã gửi là 126 kg, tính theo giá 16.000đ/kg bà phải mua khoai giống để trồng thành tiền là 2.016.000đ (Hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng chẵn).

Bị đơn là Ông Nguyễn Kim T, Bà Nguyễn Thị D trình bày: Ông T không nhất trí vói nội dung Biên bản làm việc của UBND xã Việt H ngày 15/10/2019. Việc khoai hỏng theo kết quả giám định mẫu củ khoai tây giống của Viện bảo vệ thực vật là do vi khuẩn và nấm. Vi khuẩn và nấm bị nhiễm vào củ khoai từ khi các hộ mang gửi, việc này mắt thường không thể biết được. Nên nguyên nhân khoai thối theo ông là do khách quan, không phải do kho lạnh của gia đình ông. Ông T thừa nhận trong thời gian bảo quản khoai cho các hộ, kho lạnh có hỏng nhưng thời gian hỏng khoảng 3 đến 4 tiếng, với thời gian như vậy không ảnh hưởng gì đến chất lượng khoai giống. Do đó, Ông T, bà D không nhất trí bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của Bà T. Về số lượng khoai Bà T gửi theo sổ của Ông T ghi lại là 10 bao, bằng 252 kg. Hiện số khai giống này gia đình Ông T đã trả hết cho Bà T, Bà T đã mang khoai về nhưng chưa thanh toán cho nhà ông tiền gửi. Về giá khoai tây giống 16.000đ/kg Bà T yêu cầu là phù hợp thị trường lúc đó.

Với nội dung như trên bản án sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân huyện QV, tỉnh BN đã căn cứ Điều 554, 555, 556, 557, 558 Bộ luật dân sự; Điều 147, 217, 227, điểm c khoản 2 Điều 266, Điều 271, 272 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

Đình chỉ ½ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị T.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của Bà Nguyễn Thị T.

Buộc Ông Nguyễn Kim T và Bà Nguyễn Thị D phải bồi thường cho Bà Nguyễn Thị T số tiền giá trị của một nửa số khoai tây giống bị hỏng là 2.016.000đ.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2020 Ông Nguyễn Kim T có đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt và xin miễn án phí theo diện thân nhân của liệt sĩ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng miễn án phí cho Ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét kháng cáo của Ông Nguyễn Kim T được nộp trong hạn luật định, có nội dung phù hợp là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về tố tụng: Hội đồng xét xử thấy, bản án sơ thẩm đã xem xét giải quyết đầy đủ các yêu cầu của đương sự; xác định đúng quan hệ tranh chấp; đưa đầy đủ người có liên quan vào tham gia tố tụng, tiến hành lấy lời khai của các đương sự trong vụ án, mở phiên họp hòa giải, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đảm bảo theo trình tự thủ tục luật định.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án: Khoảng tháng 02/2019, Bà Nguyễn Thị T có đem 252kg khoai tây giống đến gửi tại kho lạnh của vợ chồng Ông Nguyễn Kim T, Bà Nguyễn Thị D. Khi đem khoai tây đến Ông T không bỏ ra kiểm tra mà chỉ đếm bao và cân, sau đó nhập khoai vào kho, số lượng bao và khối lượng khoai gửi được Ông T ghi vào sổ theo dõi của Ông T. Giá gửi hai bên thỏa thuận là 2.400đ/1kg. Trước khi đến vụ trồng khoai, gia đình Ông T thông báo mọi người đến lấy khoai, khi lấy khoai về hai bên cũng không kiểm tra lại khoai ngay mà chỉ đếm bao sau đó trở về. Tuy nhiên, sau khi nhận lại khoai giống về mấy hôm gia đình Bà T kiểm tra thì thấy toàn bộ số khoai của bà lấy về từ kho của nhà Ông T bị hỏng, có hiện tượng cứng như đá, bà bổ thử ra thì bên trong thấy củ thì rỗng, củ thì đặc nhưng bị đen không thế trồng được nữa. Bà T đã đến nhà Ông T, gặp vợ chống Ông T và bà D để nói với vợ chồng Ông T là khoai nhà bà bị hỏng hết. Ông T bảo cứ để sau tôi mang đi kiếm nghiệm xem thế nào. Nhưng sau cũng không thấy vợ chống Ông T đến xem và giải quyết gì. Do đó hai bên cũng không thống nhất được cụ thể thế nào, khoai hỏng bao nhiêu, tại sao hỏng và bồi thường thế nào. Do không thể hòa giải được với nhau về việc giải quyết tranh chấp nên Bà T đã khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Ông T, bà D phải có trách nhiệm bồi thường số khoai giống bị hỏng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Ông T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, xét kháng cáo của đương sự Hội đồng xét xử thấy:

Thứ nhất, giữa Ông T và Bà T có thỏa thuận về việc gửi 252kg khoai giống tại kho lạnh là Ông T. Việc gửi giữ tuy không được các bên lập thành hợp đồng nhưng căn cứ từ việc thừa nhận của các bên, căn cứ vào sổ sách ghi chép của gia đình Ông T có thể xác định giữa Ông T, bà D với Bà T có phát sinh hợp đồng gửi giữ tài sản.

Thứ hai, Ông T thừa nhận gia đình Bà T có gửi khoai tại kho lạnh nhà ông. Phía Bà T cho rằng sau khi lấy khoai về được mấy hôm thì phát hiện ra toàn bộ số khoai lấy về từ kho lạnh nhà Ông T đều bị hỏng hết. Việc khoai bị hỏng Bà T có tìm gặp Ông T, bà D để trao đổi bàn cách giải quyết nhưng gia đình Ông T tránh mặt không giải quyết. Về phía Ông T cũng xác định gia đình Bà T sau khi lấy khoai giống về thì khoai có bị hỏng nhưng không hỏng toàn bộ mà chỉ hỏng khoảng 15%. Như vậy, việc việc các bên xác định có khoai tây giống bị hỏng là căn cứ phát sinh thiệt hại trong quan hệ gửi giữ tài sản giữa ông Tự, bà D với Bà T.

Thứ ba, phía nguyên đơn trình bày toàn bộ số lượng khoai giống đều được nguyên đơn chọn lựa sau khi thu hoạch đảm bảo đủ điều kiện về khoai làm giống, được đóng bao và bảo quản tốt trước khi gửi vào kho lạnh nhà Ông T. Còn việc Ông T đồng ý nhập khoai vào kho là phải chịu trách nhiệm về chất lượng đầu vào của khoai giống. Về nguyên nhân khoai giống hỏng Bà T cho rằng trong quá trình bảo quản khoai thì kho lạnh nhà Ông T từng bị hỏng phải sửa chữa nên Bà T cho rằng đây là nguyên nhân chính cho việc khoai bị hỏng. Về việc này Ông T cho rằng khoai hỏng là không phải lỗi của gia đình ông. Vì sau khi các hộ dân báo khoai bị hỏng ông đã mang khoai đi giám định tại Viện bảo vệ thực vật, theo kết luận của Viện bảo vệ thực vật nguyên nhân khoai hỏng là do vi khuẩn và nấm mà vi khuẩn và nấm bị nhiễm vào củ khoai từ ngoài đồng, trước khi các hộ mang gửi vào kho nhà Ông T. Do đó, việc khoai hỏng không phải lỗi từ việc bảo quản của gia đình ông. Để chứng minh cho ý kiến của mình Ông T đã cung cấp cho Tòa án kết quả giám định mẫu bệnh của Viện bảo vệ thực vật bộ môn cây bệnh và miễn dịch thực vật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy về trình tự thủ tục thu thập mẫu vật và quá trình Ông T đi giám định là không đảm bảo theo quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ. Cụ thể, khi lấy mẫu không có người làm chứng, mẫu phẩm giám định không xác định được nguồn gốc từ đâu, khi Ông T đi giám định không có sự chứng kiến của người gửi khoai đi cùng nên không thể xác định được đây là những mẫu bệnh phẩm trong số khoai mà gia đình Bà T gửi Ông T. Do đó, kết luận giám định của Ông T không có giá trị pháp lý để chứng minh trong vụ án. Trong khi đó có người làm chứng (là người sửa máy lạnh kho của Ông T) về việc máy lạnh nhà Ông T bị hỏng trong quá trình bảo quản khoai. Như vậy, việc bản án sơ thẩm xác định khoai giống của nhà Bà T bị hỏng có một phần lỗi từ phía Ông T là có căn cứ.

Tại thời điểm lấy khoai về gia đình nhà Bà T cũng không kiểm tra khoai ngay, khi phát hiện khoai hỏng cũng không yêu cầu Ông T phải giải quyết ngay, hoặc tiến hành lập biên bản việc việc khoai hỏng để xác định số lượng khoai bị hỏng. Như vậy, trong quan hệ gửi giữ khoai giữa Bà T với Ông T thì Bà T cũng phải có trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh. Việc bản án sơ thẩm xác định các bên đều có lỗi và xác định trách nhiệm của các bên như nhau là thỏa đáng.

Như vậy, quyết định bản án sơ thẩm tuyên xử buộc Ông T, bà D phải có nghĩa vụ bồi thường ½ thiệt hại cho Bà T là có căn cứ, việc Ông T kháng cáo với nội dung này là không có căn cứ chấp nhận.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm Ông T cung cấp giấy Tổ quốc ghi công của ông Nguyễn Kim Tập là bố Ông T, nên Ông T thuộc trường hợp thân nhân liệt sĩ và được miễn án phí. Tại phiên tòa Ông T có đơn đề nghị xin miễn án phí nên cần chấp nhận yêu cầu này của Ông T, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho Ông T, bà D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.

Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của Ông T, sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí: Ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 554, 555, 556, 557, 558 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ông Nguyễn Kim T, sửa bản án sơ thẩm đối với phần tuyên xử về án phí.

Đình chỉ ½ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị T.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của Bà Nguyễn Thị T.

Buộc Ông Nguyễn Kim T và Bà Nguyễn Thị D phải bồi thường cho Bà Nguyễn Thị T số tiền giá trị của một nửa số khoai tây giống bị hỏng là 2.016.000đ (hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Ông Nguyễn Kim T, Bà Nguyễn Thị D và miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Ông Nguyễn Kim T. Hoàn trả Ông Nguyễn Kim T 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0002382 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện QV.

Hoàn trả cho Bà T số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001034 ngày 02/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện QV.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ