vanban.org

Bản án 55/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 11/11/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H.

Giữ nguyên Bản án dân ự ơ hẩm ố 55/2020/DS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân hành phố Phan Thiế , ỉnh Bình Thuận. Luật Thi hành án dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/DS-PT
Ngày: 11-11-2021
V/v tranh chấp về hợp đồng thuê
mặt bằng kinh doanh

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Chín.

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Đức Hùng;

Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Phú - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự hụ lý ố 129/2020 TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2020, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh”.

Do Bản án dân sự ơ hẩm số 55/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyế định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2021 QĐ-PT ngày 06/7/2021; Quyế định hoãn phiên tòa số 38 2021 QĐ-PT ngày 27/7/2021; Thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 48/TABT-DS ngày 25/10/2021, giữa các đương ự:

- Nguyên đơn: Ban quản lý Khu du lịch A;

Địa chỉ: Khu phố 6, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Thúc Th; chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh Tr; chức vụ: Phó Giám đốc (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/12/2018).

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, inh năm 1966;

Địa chỉ: Khu phố 5, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hải C, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Khu phố 3, Thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận (Theo Giấy ủy quyền ngày 09/01/2020).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hai , sinh năm 1965.

Địa chỉ: Khu phố 5, phường Mũi Né, hành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn H.

Các đương ự khác không kháng cáo.

Đương ự có mặt: Ông Huỳnh Thanh Trúc, ông Lê Văn H, ông Trần Hải Cường.

Đương ự vắng mặt: Bà Nguyễn Thị Hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ ơ vụ án ơ hẩm:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2018, bản khai nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/8/2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định số 2009/QĐ-CTUBBT về việc thu hồi 51.500m2 đấ chưa ử dụng và đất lâm nghiệp (rừng phi lao) do Ban quản lý Bảo vệ và trồng rừng Phan Thiết quản lý tại phường Mũi né, thành phố Phan Thiết và giao diện ích đất nêu trên cho Ban quản lý Khu du lịch A ( au đây gọi tắt Ban quản lý) để xây dựng cơ sở hạ tầng Khu du lịch Đồi Cát Bay - phường Mũi Né.

Ngày 20/5/2003, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết ban hành Quyết định 1651/QĐ-UBPT về việc phê duyệt báo cáo đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu du lịch Đồi Cát Bay - phường Mũi Né. Ngày 15/8/2003, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết ban hành Quyế định số 3296/QĐ-UBPT về việc ban hành quy định về phương thức huy động vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu du lịch Đồi Cát Bay - phường Mũi Né, bằng phương hức đấu thầu, hu rước một phần tiền lệ phí thuê mặt bằng theo giá trúng thầu đối với các hộ có nhu cầu thuê kinh doanh giải khát và dịch vụ trong Khu du lịch Đồi Cát Bay.

Ngày 08/12/2003, ông Lê Văn H có đơn xin đầu thầu và trúng thầu thuê mặt bằng tại vị trí lô A1 - Khu du lịch Đồi Cát Bay. Ngày 25/12/2003 Ban quản lý và ông Lê Văn H ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh số 04 HĐ-DLHT-MN, thời hạn thuê 10 năm (từ ngày 01 01 2004 đến ngày 01/01/2014), vị trí tại lô A1 có diện tích 275m2 (chiều dài 25 m, chiều rộng 11m). Hợp đồng này đã được các bên thực hiện xong quyền và nghĩa vụ, được thanh lý theo Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 08/9/2014, không có tranh chấp, khiếu nại.

Đến ngày 22/10/2014, ông Lê Văn H có đơn xin tiếp tục thuê mặt bằng tại vị rí cũ là Lô A1 - Khu du lịch Đồi Cát Bay, được Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết phê duyệt theo Quyết định số 421/QĐ-UBND ngày 13/3/2015. Căn cứ vào quyết định này, ngày 30/3/2015 Ban quản lý và ông Lê Văn H tiến hành ký kết hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 01 HĐ-DLHTMN, thời hạn cho thuê 03 năm (tính từ ngày 01 01 2015 đến ngày 01/01/2018).

Đến ngày 22/11/2017 Ban quản lý ban hành và gửi Thông báo số 222 thông báo ngày hết thời hạn cho thuê mặt bằng là 01/01/2018. Ngày 02/01/2018 Ban quản lý ban hành Thông báo số 11 về việc chấm dứt hợp đồng thuê đối với ông Hoàng và thông báo cho ông Hoàng phải thực hiện theo nội dung đã cam kết tại Khoản 4.5 Điều 4 của Hợp đồng huê đã ký kết là phải tháo dỡ, di dời tài sản rên đấ để trả lại mặt bằng cho Ban quản lý nhưng ông Lê Văn H không thực hiện.

Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Hai phải háo dỡ, di dời oàn bộ ài ản rên đấ để rả lại mặ bằng lô đấ A1, có diện ích 275m2 (chiều dài 25m, chiều rộng 11m) ại Khu du lịch Đồi Cá Bay - Khu phố 5, phường Mũi Né, hành phố Phan Thiế theo Hợp đồng huê mặ bằng kinh doanh ố 01 HĐ-KDLHTMN ngày 30 tháng 3 năm 2015.

Theo bản tự khai của bị đơn và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Vào năm 1996 khi Nhà nước chưa làm đường nhựa (đường Xuân Thủy) ông Lê Văn H đã đến khu vực Đồi cá khai hoang và ử dụng diện ích đấ ngay ại vị rí lô đấ A1 hiện nay đang huê, dựng ạm lều bằng ăng bạ để kinh doanh nước giải khá , hời điểm ông đến mở quán hì khu vực này là đấ rống, không có nhà cửa hoặc cây rồng. Ông xác nhận ông có khai hoang ử dụng đấ nhưng không đóng huế đấ , không kê khai, đăng ký đấ khai hoang, không có tên rong hồ ơ địa chính. Đến năm 2000 ông có đóng huế kinh doanh cho Ủy ban nhân dân phường Mũi Né là 20.000đ háng.

Năm 2003 Ủy ban nhân dân hành phố PhanThiế đã hành lập Ban quản lý Khu du lịch A và giao quản lý khu vực Đồi Cát Bay, đồng hời ổ chức đấu hầu huê mặ bằng để kinh doanh, ông Hoàng đã ham gia đấu hầu và rúng hầu ại vị rí lô A1, Khu du lịch Đồi Cá Bay, mà ông đang mở quán Trọng Nghĩa hiện nay.

Ông xác định ông có ký các hợp đồng thuê mặt bằng tại lô A1 đúng như nguyên đơn trình bày nhưng ông không đồng ý trả lại mặt bằng tại lô A1 này với các lý do:

Thứ nhất: Ông là người đã khai hoang ử dụng vị trí mặt bằng tại lô A1 này từ năm 1996;

Thứ hai: Quyế định 2009 QĐ-CTUBBT ngày 15/8/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận là trái luật và trái thẩm quyền vì dự án khu du lịch Đồi Cá Bay chưa rình Thủ ướng Chính phủ phê duyệt. Đồng thời khi Quyế định 2009 QĐ-CTUBBT ngày 15/8/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận chưa ban hành, nghĩa là chưa có quyế định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận mà Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiế đã phê duyệ phương án đầu ư xây dựng cơ ở hạ tầng theo Quyế định 1651 ngày 20/5/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết là không đúng quy định pháp luật. Việc thực hiện đấu giá thuê mặt bằng kinh doanh không đúng với quy trình theo Quyế định số 216 2005 QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ ướng Chính phủ.

Ban quản lý đã căn cứ hai quyế định trái pháp luậ nêu rên để ký kết hợp đồng thuê mặt bằng với ông Hoàng là không đúng hẩm quyền, lúc đó ông không am hiểu pháp luậ nên ông đã ký kết các hợp đồng thuê mặt bằng như đã nêu trên. Bị đơn xác định Ban quản lý không có thẩm quyền khởi kiện đòi lại mặt bằng do không có ư cách pháp nhân, không được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có quyền kinh doanh cho huê đất cũng như đòi lại đấ cho huê heo quy định pháp luật.

Với các lý do nêu trên bị đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh ký kết giữa các bên là vô hiệu do trái pháp luật; Đồng thời yêu cầu được tiếp tục kinh doanh tại vị trí lô A1 hiện nay, khi nào Nhà nước có chủ rương thu hồi đất và có quyế định thu hồi đất cũng như hỏa thuận phương án bồi hường do thu hồi đấ đúng quy định pháp luật, thì ông Hoàng sẽ trả lại đất cho Nhà nước.

Về vấn đề yêu cầu bồi hường thiệt hại đối với phần tài sản của gia đình ông trên diện ích đấ đã huê, do chỉ yêu cầu được tiếp tục kinh doanh trên mặt bằng đã huê nên bị đơn không đặt vấn đề yêu cầu Tòa án giải quyết bồi hường thiệt hại về tài sản đã đầu ư rên mặt bằng đã huê.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hai (vợ ông Lê Văn H), có nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không có bản tự khai và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của bà về việc khởi kiện của nguyên đơn.

Vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tiến hành hòa giải nhưng không hành. Tại Bản án dân sự ơ hẩm số 55/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, quyế định:

1/ Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 95, khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157;khoản 4 Điều 187; điểm d khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 262 Bộ luậ Tố ụng dân ự;

Điều 401, 472, Điều 474, Điều 482 và Điều 688 Bộ luậ Dân ự;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyế ố 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 quy định về mức hu, miễn, giảm, hu, nộp, quản lý và ử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luậ hi hành án dân ự.

2/ Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ban quản lý Khu du lịch A. Tuyên buộc vợ chồng ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Hai phải háo dỡ, di dời oàn bộ ài ản rên đấ để rả lại mặ bằng lô đấ A1, có diện ích 275m2 (chiều dài 25m, chiều rộng 11m) ại Khu du lịch Đồi Cá Bay, Khu phố 5, phường Mũi Né, hành phố Phan Thiế , heo Hợp đồng huê mặ bằng kinh doanh ố 01 HĐ-KDLHTMN ngày 30 tháng 3 năm 2015 cho Ban quản lý Khu du lịch A.

Ngoài ra bản án dân sự ơ hẩm còn uyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương ự, quyền yêu cầu hi hành án và hời hiệu hi hành án heo quy định của pháp luật.

Ngày 06/10/2020, bị đơn ông Lê Văn H kháng cáo toàn bộ bản án ơ thẩm, yêu cầu hủy bản án ơ hẩm và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ban quản lý Khu du lịch A.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên quyế định của bản án ơ hẩm.

Bị đơn hay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu sửa bản án ơ hẩm và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ban quản lý Khu du lịch A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặ nhưng được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Hai.

Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn không có chứng cứ gì mới, không có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án ơ hẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu nội dung đơn kháng cáo của bị đơn; căn cứ các ài liệu có rong hồ ơ vụ án đã được hẩm ra ại phiên òa, căn cứ vào kế quả ranh ụng ại phiên òa, nghe đại diện Viện kiểm á nhân dân ỉnh Bình Thuận phá biểu ý kiến.

Về hủ ục ố ụng:

Tại phiên òa phúc hẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hai vắng mặ . Tuy nhiên, bị đơn ông Lê Văn H (là chồng) xác nhận có nhận giấy riệu ập bà Nguyễn Thị Hai (là vợ) đến phiên òa và cam kế giao lại cho bà Hai. Trường hợp này bà Nguyễn Thị Hai được Tòa án riệu ập hợp lệ lần hứ hai mà vẫn vắng mặ hì Tòa án iến hành xé xử vụ án quy định ại Khoản 3 Điều 296 Bộ luậ Tố ụng dân ự.

Về quan hệ pháp luậ ranh chấp, hẩm quyền giải quyế và áp dụng pháp luậ : Nguyên đơn Ban quản lý Khu du lịch A khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H tháo dỡ ài ản để rả lại đấ mặ bằng đã huê heo hợp đồng.

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luậ Tố ụng dân ự năm 2015, Tòa án xác định quan hệ pháp luậ ranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng huê mặ bằng kinh doanh” huộc hẩm quyền giải quyế của Tòa án nhân dân hành phố Phan Thiế , ỉnh Bình Thuận.

Tranh chấp về hợp đồng huê mặ bằng kinh doanh rong vụ án này khi Bộ luậ Dân ự năm 2015 có hiệu lực pháp luậ hì hai bên đang hực hiện, nội dung và hình hức hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luậ Dân ự năm 2015 nên áp dụng quy định của Bộ luậ Dân ự năm 2015 heo quy định ại Điểm b Khoản 1 Điều 688 Bộ luậ Dân ự năm 2015.

Về nội dung:

Trong quá rình giải quyế vụ án cũng như ại phiên òa ơ hẩm, phiên òa phúc hẩm, đương ự hừa nhận và xác nhận: Ngày 08/12/2003 ông Lê Văn H có đơn xin đấu thầu thuê mặt bằng kinh doanh trong Khu du lịch Đồi Cát Bay - phường Mũi Né và là một trong 23 hộ trúng thầu, được Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết phê duyệt danh sách giao thầu mặt bằng kinh doanh tại lô A1 trong Khu du lịch Đồi Cát Bay - phường Mũi Né theo Quyế định số 4330 QĐ-UBPT ngày 25/12/2003.

Ngày 25/12/2003 Ban quản lý Khu du lịch A ( au đây gọi tắt là Ban quản lý) và ông Lê Văn H ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh số 04/HĐ-DLHTMN, heo đó Ban quản lý cho ông Hoàng huê lô đất A1 diện tích 275 m2 (chiều dài 25m, chiều rộng 11m) tại Khu du lịch Đồi Cát Bay - Khu phố 5, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết trong thời hạn 10 năm (kể từ ngày 01 01 2004 đến ngày 01/01/2014). Ngày 08/9/2014 các bên ký kết hợp đồng lập biên bản thanh lý hợp đồng, trong biên bản thể hiện rõ về quyền, nghĩa vụ của hai bên đã hực hiện đầy đủ, không có vướng mắc, tranh chấp.

Ngày 22/10/2014 ông Lê Văn H có đơn xin iếp tục thuê mặt bằng tại lô A1, Khu du lịch Đồi Cá Bay và được chấp thuận phê duyệt cho thuê theo Quyế định số 421 QĐ-UBND ngày 13 háng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết. Ngày 30/3/2015 Ban quản lý và ông Lê Văn H tiếp tục ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh số 01 HĐ-KDLHTMN đối với lô A1, Khu du lịch Đồi Cát Bay, thời hạn thuê 03 năm ( ính ừ ngày 01/01/2015 đến ngày 01/01/2018), mục đích huê kinh doanh dịch vụ du lịch, giá thuê 1.000.000đồng/tháng.

Như vậy, Ban quản lý và ông Lê Văn H là 02 chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự heo các Điều 14, 17, 84, 86 Bộ luật Dân sự năm 2005 để thực hiện giao dịch dân sự (Ký kết hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh). Hai bên ký kết hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh hoàn toàn tự do, tự nguyện, bình đẳng; nội dung hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên, nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng heo quy định tại các Điều 388, 389, 401, 402, 412 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh số 01 HĐ-KDLHTMN ngày 30/3/2015 được hai bên thực hiện đúng theo nội dung hợp đồng và cam kết. Ban quản lý đã giao mặt bằng cho ông Lê Văn H thuê, ông Lê Văn H thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê hàng tháng, quá trình thực hiện hợp đồng không phát sinh vấn đề gì xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên.

Khi thời hạn hợp đồng thuê mặt bằng sắp kết thúc (ngày kết thúc 01/01/2018), Ban quản lý ra Thông báo số 222/TB-BQLHTMN ngày 22/11/2017 về việc hết thời hạn cho thuê mặt bằng; Thông báo số 11/TB-BQLHTMN ngày 02/01/2018 về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng; Thông báo số 197/TB-BQLHTMN ngày 26/9/2018 về việc khẩn rương ự tháo dỡ, di dời tài sản và giao lại mặt bằng. Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết ban hành Công văn ố 4615 ngày 09/4/2018 về việc không chấp nhận đơn yêu cầu tiếp tục gia hạn hợp đồng thuê mặt bằng của ông Lê Văn H nhưng ông Lê Văn H không tự tháo dỡ, di dời tài sản và giao lại mặt bằng đã huê cho Ban quản lý.

Căn cứ Khoản 4.5 Điều 4 của Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh số 01 HĐ-KDLHTMN ngày 30/3/2015: “Khi hết hạn hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh nếu không được cấp thẩm quyền tiếp tục cho thuê thì trong thời hạn 30 ngày (kể từ ngày bên cho thuê có thông báo) thì bên thuê phải tự tháo dỡ, di dời tài sản trên đất giao lại mặt bằng cho bên cho thuê quản lý theo quy định. Mọi khoản đầu tư trên đất trong quá trình kinh doanh chi phí di dời khi đến hạn hợp đồng do bên thuê chịu trách nhiệm”.

Đối chiếu với nội dung hợp đồng nêu trên thì ông Lê Văn H không tự tháo dỡ, di dời tài sản và giao lại mặt bằng đã huê cho Ban quản lý là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết tại hợp đồng thuê mặt bằng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Tòa án cấp ơ hẩm quyế định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị đơn: Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, không có chứng cứ để chứng minh kháng cáo của bị đơn là có căn cứ và hợp pháp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa.

Xét ý kiến trình bày của bị đơn: Ông Lê Văn H là người đã khai hoang sử dụng vị trí mặt bằng tại lô A1 này từ năm 1996; Quyế định 2009 QĐ-CTUBBT ngày 15/8/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận là trái luật và trái thẩm quyền vì dự án khu du lịch Đồi Cá Bay chưa trình Thủ ướng Chính phủ phê duyệt. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận chưa ban hành quyế định mà Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiế đã phê duyệt phương án đầu ư xây dựng cơ ở hạ tầng theo Quyế định 1651 ngày 20 5 2003 là không đúng quy định pháp luật. Việc thực hiện đấu giá thuê mặt bằng kinh doanh không đúng với quy trình theo quyế định số 216 2005 QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ ướng Chính phủ, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh ký kết giữa các bên là vô hiệu do trái pháp luật, yêu cầu được tiếp tục kinh doanh tại vị trí lô A1 hiện nay, khi nào Nhà nước thu hồi đất cũng như hỏa thuận phương án bồi hường do thu hồi đấ đúng quy định pháp luật, thì ông Lê Văn H sẽ trả lại đất cho Nhà nước.

Ban quản lý đã căn cứ hai quyế định trái pháp luậ nêu rên để ký kết hợp đồng thuê mặt bằng với ông Hoàng là không đúng hẩm quyền, Ban quản lý không có thẩm quyền khởi kiện đòi lại mặt bằng do không có ư cách pháp nhân, không được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có quyền kinh doanh cho huê đấ cũng như đòi lại đấ cho huê heo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nộp bản phô tô Thông báo số 61/TB.DLHT-MN ngày 20/10/2002 và Hợp đồng số 02/2001/DLHT-MN ngày 10 02 2001 để chứng minh việc Ban quản lý không có quyền cho thuê mặt bằng, việc cho thuê mặt bằng gây thiệt hại cho bị đơn, thực tế thuê mặt bằng là hình thức thu thuế. Tài liệu này chỉ là bản phô tô nhưng được nguyên đơn xác nhận đúng là Thông báo và Hợp đồng của Ban quản lý.

Ý kiến nêu trên của bị đơn không có căn cứ pháp luật để Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, vì đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh đúng quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng như nhận định và phân tích tại phần [3].

Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308; Khoản 3 Điều 296 của Bộ luậ Tố ụng dân ự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H.

Giữ nguyên Bản án dân ự ơ hẩm ố 55/2020/DS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân hành phố Phan Thiế , ỉnh Bình Thuận.

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 95, Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 4 Điều 187; Điểm d Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 262 của Bộ luậ Tố ụng dân ự;

- Điều 401, 472, Điều 474, Điều 482 và Điều 688 của Bộ luậ Dân ự;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyế ố 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 quy định về mức hu, miễn, giảm, hu, nộp, quản lý và ử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ban quản lý Khu du lịch A.

Tuyên buộc vợ chồng ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Hai phải háo dỡ, di dời oàn bộ ài ản rên đấ để rả lại mặ bằng lô đấ A1, có diện ích 275m2 (chiều dài 25m, chiều rộng 11m) ại Khu du lịch Đồi Cá Bay - Khu phố 5, phường Mũi Né, hành phố Phan Thiế theo Hợp đồng huê mặ bằng kinh doanh ố 01 HĐ-KDLHTMN ngày 30 tháng 3 năm 2015 cho Ban quản lý Khu du lịch A.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn H phải nộp 300.000đồng án phí dân ự ơ hẩm.

Hoàn rả lại cho Ban quản lý Khu du lịch A ố iền 300.000đồng ạm ứng án phí đã nộp heo Biên lai hu iền ạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ố 0023797 ngày 05 háng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân ự hành phố Phan Thiế .

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá: Ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ rả lại cho Ban quản lý Khu du lịch A chi phí xem xé , hẩm định ại chỗ và định giá ài ản là 3.000.000đồng (Ba riệu đồng).

Kể ừ ngày bản án có hiệu lực pháp luậ (đối với các rường hợp cơ quan hi hành án có quyền chủ động ra quyế định hi hành án) hoặc kể ừ ngày có đơn yêu cầu hi hành án của người được hi hành án (đối với các khoản iền phải rả cho người được hi hành án) cho đến khi hi hành xong, bên phải hi hành án còn phải chịu khoản iền lãi của ố iền còn phải hi hành án heo mức lãi uấ quy định ại Điều 357, Điều 468 của Bộ luậ Dân ự năm 2015, rừ rường hợp pháp luậ có quy định khác.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

4. Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Văn H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0008077 ngày 27/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Ông Lê Văn H nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc hẩm có hiệu lực pháp luậ kể ừ ngày uyên án (11/11/2021).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ