- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vàng Hà L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Hà L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2020/ HS-ST Ngày: 30/09/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M - TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Chiến
Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Thanh Xá, ông Trần Viết Ánh
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Bùi Ngọc Chín - Kiểm sát viên .
Trong ngày 30 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2020/TLST-HS, ngày 14/09/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/ QĐXXST-HS ngày 15/09/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Hà Ly - tên gọi khác: Không- giới tính: Nam
Sinh năm 1982, tại xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản X, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Con ông Vàng Ha X đã chết; và con bà Lỳ Mò N, sinh năm 1958; Bị cáo có 05 anh chị em ruột bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ. Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2020 đến ngày 18/6/2020, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/6/2020 đến nay, tại xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng: Vàng Lò Hừ, sinh năm 1997, trú tại bản X, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
*Người phiên dịch cho bị cáo: Phùng Lê Na, sinh năm 1984, trú tại Khu phố 7, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 09/6/2020 Vàng Hà L, sinh năm 1982, trú tại bản X, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu rủ Vàng Lò H, sinh năm 1997, cư trú cùng bản với L cùng nhau đi xuống Thị trấn M chơi, được H đồng ý. Sau đó H điều khiển xe mô tô của H và chở L cùng đi. Khi đến ngã ba bản B, xã Bum N, L không xuống Thị trấn nữa mà rủ H đi bản P, xã H, huyện Nậm N, tỉnh Lai Châu chơi thì H đồng ý (Mục đích của L đi tìm mua ma túy để sử dụng). Sau đó H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở L đến giữa bản P, xã H, L đưa cho H số tiền 30.000 đồng và bảo H đi mua xăng xe mô tô, còn L ở lại có chút việc. Trong lúc H đổ mua xăng, L đã vào nhà của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt và mua được của người đàn ông này 02 gói Heroine, trong đó 01 gói được gói bằng nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng nilon màu hồng mua hết 250.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, L dùng 01 mảnh nilon màu hồng gói 02 gói Heroine lại và cất giấu trong hậu môn của L rồi quay ra chỗ H và rủ H đi về nhà, H không biết việc L mua chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến 18 giờ 40 phút cùng ngày, Khi H và L đến khu vực cầu Nậm C thuộc địa phận bản Phí C, xã P, huyện M thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Pa Vệ Sử yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện bên trong hậu môn của Vàng Hà L có một gói nilon màu hồng bên trong có 02 gói Heroine, vật chứng thu giữ 01 gói được gói bằng nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng nilon màu hồng.
Tại kết luận giám định số 26/KLGĐ ngày10/6/2020 của Công an huyện M, tỉnh Lai Châu xác định: Tổng khối lượng 02 gói vật chứng của Vàng Hà Ly có khối lượng là 0,61 gam.
Tại kết luận giám định số 297/ C09-TT2 ngày 18/6/2020 của iện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định đều là Heroine.
Cáo trạng số 55/CT-VKS-MT ngày 14/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Vàng Hà L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vàng Hà L và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Vàng Hà L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 BLHS, xử phạt bị cáo Vàng Hà L từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh nilon còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Hà L. Về án phí HSST áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vàng Hà L sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo khó khăn, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán Heroine cho bị cáo. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên không có cơ sở xem xét xử lý.
Đối với Vàng Lò H là người đã cùng đi với Vàng Hà L và chở L bằng xe mô tô của H đi bản P, xã H, huyện Nậm N. Quá trình điều tra xác định, H không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí lời luận tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ qua Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra. Đủ cơ sở khẳng định bị cáo Vàng Hà L, Sinh năm 1982, tại xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. với mục đích lên bản P, xã H để đi tìm chất ma túy Heroine mang về để sử dụng hút dần, do bị cáo là người nghiện chất ma túy. Đến 18 giờ 40 phút ngày 09/6/2020, Khi H và L đến khu vực cầu Nậm C thuộc địa phận bản Phí C, xã P thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Pa Vệ Sử yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện bên trong hậu môn của Vàng Hà L có một gói nilon màu hồng bên trong có 02 gói Heroine (vật chứng thu giữ 01 gói được gói bằng nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng nilon màu hồng có tổng khối lượng 0,61 gam Heroine) .
Như vậy hành vi của bị cáo Vàng Hà L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại điều luật qui định:
1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán,vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
.......
Bị cáo Vàng Hà L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Vàng Hà L theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng hành vi bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo nhận thức được điều đó, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo đã mua Heroine để sử dụng bị cáo bị nghiện 7 năm, khi bị bắt bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,61 gam Heroine nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi mình đã thực hiện. Hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để dăn đe giáo dục đối với bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 BLHS bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,61 gam Heroine thu giữ, đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại; 03 mảnh nilon còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Chấp nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan Công an huyện Mường Tè trả 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại WA E S, biển kiểm soát 25M1- 045.17 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của àng Lò H, sinh năm 1997, trú tại bản X, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu là phù hợp.
Án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 260; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo Vàng Hà L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Vàng Hà L 01( Một ) năm 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày từ ngày 09/6/2020 đến ngày 18/6/2020. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
2.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh nilon còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng, hiện vật chứng vụ án đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Hà L.
4. Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu - VKSND tỉnh Lai Châu - CA huyện M THAHS - VKSND huyện M - THADS huyện M - Bị cáo - Lưu hồ sơ | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lò Thị Chiến |