- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tiến T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 55/2020/HSST Ngày: 28-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lường Văn Hịa
2. Bà: Bạc Thị Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2020, tại phòng xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2020/HSST ngày 28/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST-HS ngày 17/4/2020 đối với bị cáo:
Họ tên: Vũ Tiến T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1963; tại: Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã P, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Tiến Th (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là: Nguyễn Thị M; SN: 1965 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; ngày 28/10/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử 12 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 01/8/2009 chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/01/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 31/12/2019, Vũ Tiến T đi bộ từ nhà đến nhà T Văn Khánh ở bản Noong Hẹt, xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên nhờ Khánh mua được 03 viên Hồng phiến (02 viên mầu hồng và 01 viên mầu xanh) cùng 01 gói Heroine với giá 150.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi có được ma túy, T mang về nhà, cho 03 viên Hồng phiến vào trong nắp của chiếc bút xóa đóng lại rồi cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, còn gói Heroine, T cất giấu vào ngăn kéo tủ ở phòng khách. Ngày 01 và 02/01/2020, T sử dụng hết 02 viên Hồng phiến màu hồng. Hồi 13 giờ 50 phút ngày 03/01/2020, khi T đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên vào nhà kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 chiếc bút xóa bên trong nắp có chứa 01 viên nén mầu xanh (nghi ma túy tổng hợp). Hồi 15 giờ 05 phút ngày 03/01/2020, Cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Tiến T, thu giữ tại ngăn kéo tủ ở phòng khách 01 túi nilon màu trắng bên trong có các cục bột mầu trắng (nghi Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 03/01/2020 đã xác định vật chứng thu giữ của Vũ Tiến T gồm: 01 viên nén mầu xanh có khối lượng 0,1 gam, chất bột mầu trắng có khối lượng: 0,19 gam. Tại bản kết luận giám định số: 78/GĐ - PC09 ngày 09/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu vật chứng thu giữ của Vũ Tiến T gửi giám định gồm viên nén mầu xanh và mẫu chất bột mầu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Tiến T một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKSĐB ngày 28/02/2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vũ Tiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS. Tại phiên tòa trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng gồm: 0,1 gam Methamphetamine, 0,19 gam Heroine và 01 chiếc bút xóa cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, điểm c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình, cũng như không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 03/01/2020, Vũ Tiến T bị bắt quả tang khi đang cất giấu 0,1 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cất giấu 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine đều được quy định trong điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì khối lượng của các chất ma túy bị cáo cất giấu là 0,29 gam (0,19 gam Heroine + 0,1 gam Methamphetamine = 0,29 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền sự. Ngày 28/10/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử 12 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 01/8/2009 chấp hành xong bản án, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trach nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, đã từng bị Tòa án xét xử 01 lần, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,29 gam vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tiếp tục giáo dục bị cáo và để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, tài sản trong gia đình chỉ là những vật dụng thiết yếu do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Quá trình điều tra không có đủ căn cứ chứng minh T Văn Khánh đã mua ma túy cho Vũ Tiến T nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: 0,19 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 bút xóa không có giá trị nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a, điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, điểm c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 03/01/2020.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Tiến T phải chịu 200.000đ án phí HSST.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, điểm c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam Heroine đã trích 0,06 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định; 0,1 gam Methamphetamine đã trích toàn bộ gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định; 01 chiếc bút xóa
(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2020).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/4/2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND h. Điện Biên; VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan ĐT + Nhà tạm giam, giữ h. Điện Biên; - Bộ phận HSNV Công an h. Điện Biên; - Sở Tư pháp t. Điện Biên +THA H.Sự; - Chi cục THADS h. Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thu Hƣơng |