vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc S, S út, Út hí) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về vật chứng: Căn cứ Khoản 1 và các Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc S, S út, Út hí) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Xuân Hoàng;

- Bà Nguyễn Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2019/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc S, S út, Út hí), sinh năm: 1974, tại: N, Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ 15, thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N và bà Trần Thị Q; có vợ và có 03 (ba) người con.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 234/HSST ngày 26 tháng 10 năm 1999, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Ngọc H (lấy tên là Nguyễn Ngọc S) 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo Khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 01 tháng 12 năm 2016.

- Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 04/HSPT ngày 18 tháng 01 năm 2000, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Ngọc H (lấy tên là Nguyễn Ngọc S) 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm c Khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm ngày 01 tháng 12 năm 2016.

- Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 05/HSPT ngày 18 tháng 01 năm 2000, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Ngọc H (lấy tên là Nguyễn Ngọc S) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm c Khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Tổng với hình phạt tại bản án số 04/HSPT ngày 18 tháng 01 năm 2000, buộc Nguyễn Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

- Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 18/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2000, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Ngọc H 02 (hai) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản của công dân” theo Điểm b Khoản 2 Điều 154 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 14 tháng 6 năm 2019.

- Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 05/TH-HP ngày 22 tháng 5 năm 2000, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổng hợp hình phạt của các bản án số 234/HSST ngày 26 tháng 10 năm 1999, số 05/HSPT ngày 18 tháng 01 năm 2000 và số 18/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2000, buộc Nguyễn Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 07 (bảy) năm tù.

- Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 198/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2000, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Ngọc H 09 (chín) tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp với hình phạt của Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 05/TH-HP ngày 22 tháng 5 năm 2000, buộc Nguyễn Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23 tháng 02 năm 2006; chưa chấp hành các quyết định khác của bản án.

- Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 07/2017/HSST ngày 16 tháng 02 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Khoản 1 Điều 230 và Điểm g (tái phạm) Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20 tháng 3 năm 2018, chưa chấp hành hình phạt tù.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 469/2019/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Ngọc H tù chung thân, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù, về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Khoản 4 Điều 251 và Khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là tù chung thân.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án số 469/2019/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại Trại giam A2 – Bộ Công an.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Nguyễn Trúc V, sinh năm: 1992; nơi cư trú: 75 đường số 1A, khu M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Chu Văn D, sinh năm: 1959; nơi cư trú: Xã BB, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Ngọc H mua hai bịch ma túy với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) của một người tên Hùng (không rõ lai lịch) tại thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Đến ngày 17 tháng 3 năm 2018, H để 02 bịch ma túy trên xe ô tô biển số 79A-174.15 và điều khiển xe đi từ Phan Thiết về N. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đến trạm thu phí T, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, thấy tổ công tác Công an thành phố C phối hợp với Phòng Cảnh sát hình sự công an tỉnh Khánh Hòa và Công an thành phố N đang làm nhiệm vụ, H điều khiển xe ô tô 79A-174.15 va vào gác chắn barie của trạm thu phí bỏ chạy. H điều khiển xe đến trước nhà ông Nguyễn H ở đường tỉnh lộ 9 thuộc thôn Trà S, xã P, thành phố C thì để xe ô tô lại rồi bỏ đi. Tiến hành kiểm tra phát hiện tại ghế trước bên phải có 01 giỏ xách màu đen bên trong có: 01 bịch ni long bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu A); 01 bị ni long bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng xám (ký hiệu B) và một số giấy tờ cá nhân, vật dụng khác.

Tại bản kết luận giám định số 187/GĐTP/2018 ngày 09 tháng 4 năm 2018, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa, kết luận:

- Tinh thể trong mẫu ký hiệu A gửi giám định, có khối lượng 5,4828g (năm phẩy bốn tám hai tám gam) là ma túy, loại Methamphetamine;

- Tinh thể trong mẫu ký hiệu B gửi giám định có khối lượng 9,7769g (chín phẩy bảy bảy sáu chín gam) là ma túy, loại Ketamine;

Tại Bản cáo trạng số 67/CT-VKSCR-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các Điểm n, o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Kết tội bị cáo Nguyễn Ngọc H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù, sau khi đã cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

+ Đối với Bà Lê Nguyễn Trúc V cho bị cáo mượn xe ô tô 79A-174.15 để sử dụng, không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

+ Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bà Lê Nguyễn Trúc V đã nhận lại xe ô tô 79A-174.15, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.

+ Về vật chứng:

. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 edge màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia nắp trượt, màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen viền hồng.

. Tịch thu và tiêu hủy các vật chứng còn lại là ma túy, các vật dụng dùng để tàng trữ, sử dụng ma túy và một số quần áo, trang phục cá nhân nam, do không còn giá trị sử dụng.

- Bị cáo Nguyễn Ngọc H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 17 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trên xe ô tô biển số 79A-174.15 hai loại ma túy là 10,5258 gam Methamphetamin và 19,0139 gam Ketamine, trong khi bị cáo đang có tiền án chưa được xóa án tích với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm". Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Ngọc H đã đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các Điểm n, o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo có tính nguy hiểm cao, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội; bản thân bị cáo còn có nhân thân xấu, có nhiều tiền án chưa được xóa án tích; trong khi đang bị truy nã do bỏ trốn, không chấp hành án thì lại tiếp tục phạm tội. Chứng tỏ bị cáo chưa nhận thức được việc làm sai trái của bản thân và chưa tích cực tu dưỡng để trở thành công dân tốt. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, nhằm giáo dục cho bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy vậy, cũng cần ghi nhận thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo.

. Về vật chứng:

2.1. Đối với vật chứng là 03 điện thoại di động: Tài liệu điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa không chứng minh được bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

2.2. Đối với vật chứng là là ma túy, các vật dụng dùng để tàng trữ, sử dụng ma túy và một số quần áo, trang phục cá nhân nam là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc S, S út, Út hí) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Căn cứ các Điểm n, o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc S, S út, Út hí),

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ Khoản 1 và các Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự,

2.1. Trả lại cho bị cáo:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 edge màu đen (tại thời điểm giao nhận không kiểm tra được số emei điện thoại, tình trạng máy không khởi động được).

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia nắp trượt, màu nâu, màn hình màu vàng (tại thời điểm giao nhận không kiểm tra được số emei điện thoại, tình trạng máy không khởi động được).

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen viền hồng (tại thời điểm giao nhận không kiểm tra được số emei điện thoại, tình trạng máy không khởi động được).

2.2. Tịch thu và tiêu hủy:

- 5,0430g ma túy loại Methamphetamine (đã được niêm phong).

- 9,2370g ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong).

- 01 giỏ xách màu đen (tại thời điểm giao nhận đã bị hư hỏng).

- 06 ống hút nước bằng nhựa, màu trắng.

- 01 bình thủy tinh màu trắng.

- 01 nắp chai nước bằng nhựa màu trắng có khoét 01 lỗ trên đầu nắp.

- 01 ống thủy tinh màu trắng có ống rẽ bên hông.

- 01 ống thủy tinh màu trắng.

- 02 bị ni lông.

- 01 đoạn ống hút màu xanh trắng.

- 01 bao giấy màu nâu (bên trong không có gì).

- 01 giỏ xách màu đen (tại thời điểm giao nhận đã bị hư hỏng), bên trong có 01 số quần áo, trang phục cá nhân nam như: 01 quần Jean màu xanh nhãn hiệu Levi, 01 áo thun màu xám, 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng).

Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 10 năm 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Khánh Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 9 năm 2020); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ