vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trƣờng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trường T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trƣờng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày: 04.5.2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lan Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Mạnh Huề

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Phƣơng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Bích Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 04.5.2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2020/HSST ngày 24.3.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Trƣờng T - Sinh năm 197X; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú + Nơi ở: Số 4A Tổ 18 phường T, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Vũ Trường H; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim L; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Tạ Ngọc U; Có 02 con; Con lớn sinh 199X, con nhỏ sinh 201X; Danh chỉ bản số: 31 lập ngày 19/12/2019 do Công an quận H cung cấp.

Tiền án: Có 02 tiền án:

Ngày 26/6/2008 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Lưu hành tiền giả (Đã xóa án tích).

Ngày 06/12/2013 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã xóa án tích).

Tiền sự: 01 tiền sự: Năm 2004 Công an quận Hai Bà Trưng đưa đi cai nghiện bắt buộc (Đã hết thời hiệu).

Bị bắt quả tang ngày 18/12/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00’ ngày 18/12/2019, tại phòng tầng 3 nhà số 4A Tổ 18 phường T, quận H, Hà Nội, tổ công tác Công an phường T, quận H kiểm tra, phát hiện Vũ Trường T và Vũ Đăng V (Sinh năm 195X; Trú tại: Số 122 ngõ T, phường Q, quận Đ, Hà Nội) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại chỗ, T tự nguyện lấy từ trên bàn 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 vỏ chai nhựa hình trụ tròn, cao khoảng 25cm, phần nắp chai có gắn 01 coóng thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Vũ Trường T.

Tại bản kết luận giám định số: 8289/KLGĐ-PC09 ngày 26/12/2019 của Phòng Phòng kỹ thuật hình sự – Công an TP.Hà Nội đã kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,265gam. 01 coóng thủy tinh gắn trên nắp chai nhựa hình trụ tròn có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Trường T khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 18/12/2019, T đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ khu vực phố K, phường T, quận H, Hà Nội đến khu vực đầu ngõ 164 phố B, quận Đ, Hà Nội, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T mua 01 túi ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cất túi ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái T đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực cuối ngõ T, phường Q, quận Đ, Hà Nội, T gặp Vũ Đăng V và nhờ V chở về nhà. V điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29C1-815.76 chở T về nhà tại số 4A Tổ 18 phường T, quận H, Hà Nội. Khi về đến nhà, T lấy túi ma túy vừa mua được và chiếc coóng nhựa ra rủ V cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì bị kiểm tra, bắt giữ như trên.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với Vũ Đăng V, khi V được T nhờ chở về nhà, V không biết và không liên quan đến việc T tàng trữ ma túy. Tuy nhiên, tại nhà của T, V có sử dụng ma túy cùng T nên ngày 02/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Đăng V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/CP ngày 12/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự.

Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKSHBT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận H - Thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Trường T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận H giữ quan điểm truy tố với Vũ Trường T như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù; Tịch thu tiêu huỷ 01 túi nilong ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,265 gam.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,265 gam cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Trường T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác.

Về nhân thân của bị cáo: Có 01 tiền sự năm 2004 Công an quận Hai Bà Trưng đưa đi cai nghiện bắt buộc (đã hết thời hiệu). Có 02 tiền án: Năm 2008 về tội Lưu hành tiền giả, năm 2013 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã xóa án tích). Chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục cũng như áp dụng chính sách hình sự của Nhà nước đối với các loại tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, song bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lượng ma túy bị cáo tàng trữ không nhiều, do vậy Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi nilong ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,265 gam thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện bị cấm lưu hành; 01 coóng thủy tinh gắn trên nắp chai nhựa hình trụ tròn có dính ma túy loại Methamphetamine, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Vũ Đăng V, khi V được T nhờ chở về nhà, V không biết và không liên quan đến việc T tàng trữ ma túy. Tuy nhiên, tại nhà của T, V có sử dụng ma túy cùng T nên ngày 02/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Đăng V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/CP ngày 12/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trƣờng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Xử phạt: Vũ Trƣờng T: 17 (Mƣời bẩy) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18.12.2019.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 túi nilong ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,265 gam (01 bì giấy đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Vũ Trường T); 01 coóng thủy tinh gắn trên nắp chai nhựa hình trụ tròn có dính ma túy loại Methamphetamine (01 chai nhựa hình trụ tròn cao khoảng 25cm có phần nắp chai gắn 01 coóng thủy tinh dính tinh thể màu trắng đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Vũ Trường T).

Tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 26.3.2020, tang vật số 193/20 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận H.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Vũ Trường T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ