- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Túc Tr - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 55/2020/HS-ST Ngày: 15/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tôn Phước Thuận
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Túc Tr (Đen), sinh năm 1977; nơi sinh: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Bé H, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ là Lê Thị V, sinh năm 1977, có 04 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/10/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thanh A. D, Trợ giúp viên pháp lý
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang tham gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen), (Có mặt).
Bị hại: Chị Phạm Thị Thu Th, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (Có mặt).
Người làm chứng:
Chị Trần Thị Hà Th1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (Có mặt).
Anh Phạm Văn G, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (Vắng mặt).
Ông Nguyễn Thái M, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (Có mặt).
Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp N.A, xã N.M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 27/10/2020, Nguyễn Túc Tr nhìn thấy chị Phạm Thị Thu Th ngồi vo gạo tại sàn nước nhà của Thu Th., cách nhà trước của Tr khoảng 05m. Do ở cùng xóm, Tr biết Th mua bán cơm hàng ngày nên thường để tiền theo trong người, Tr nảy sinh ý định cướp tiền của Thu Th. Để thực hiện, Tr lấy cây dao xếp cán bằng gỗ kích thước (13,5 x 1,5)cm, lưỡi kim loại màu trắng có gắn sẵn lưỡi lam (loại dao dùng để cạo mặt, cạo râu) trên tủ thờ trong nhà của Tr. Tr cầm dao bằng tay phải đi đến phía sau lưng Thu Th, tay phải cầm dao kề dao vào cổ, tay trái Tr bóp cổ Th, Tr nói“Đưa tiền cho tao, không thôi tao cắt cổ”, đồng thời vật Th xuống nền sàn nước, Thủy không đưa tiền mà tri hô “Cư p, cư p” thì Nguyễn Thái M (em rể của Thu Th) nghe thấy nên từ trong nhà chạy ra can ngăn, bị Tr dọa“Tao cắt cổ mày luôn” và dùng dao đang cầm trên tay chống trả gây thương tích ở vùng cổ trái, bụng và bắp tay phải của M. Cùng lúc này, Trần Thị Hà Th1 và Phạm Văn G (em và cha dượng của Thu Th) chạy đến cùng M khống chế Tr, báo Công an xã Nhơn Mỹ lập biên bản phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra thu giữ vật chứng và xử lý: số tiền 5.500.000 đồng; 06 chiếc vòng đeo tay, 02 chiếc bông tai có gắn khoen và hình chữ X, loại vàng 18Kara, (đã trả cho Phạm Thị Thu Th); 01 cây dao xếp cán bằng gỗ kích thước, lưỡi kim loại màu trắng kích thước (13,5 x 1,5) cm có gắn sẵn lưỡi lam, tạm giữ để xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 16/11/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Mới, xác định:
+ 06 chiếc vòng đeo tay, trọng lượng 04 chỉ 02 ly vàng 18Kara, trị giá 12.622.800 đồng;
+ 02 chiếc bông tai có gắn khoen và hình chữ X, trọng lượng 09 phân vàng 18Kara, trị giá 2.826.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 15.448.800 đồng (Mười lăm triệu, bốn trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm đồng).
Tại Biên bản xác nhận ngày 27/10/2020 của Trạm y tế xã Nhơn Mỹ, ghi nhận:
+ Về tình trạng thương tích của bị hại Phạm Thị Thu Th: Đau, đỏ vùng cổ;
+ Về tình trạng thương tích của Nguyễn Thái M: Vết sây sát da bên trái cổ, kích thước (13 x 0,5) cm cách dưới dái tai trái 11cm; vết rách da mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải kích thước (1,5 x 0,1) cm; vết sây sát da vùng bụng kích thước (4x0,2)cm cách rốn 03cm.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSCM ngày 17/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen) về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; bị cáo khai do cần tiền tiêu xài, ở cùng xóm biết Th luôn có tiền trong người nên dùng dao khống chế, đe dọa nhằm cướp tiền của Thu Th, bị cáo không chiếm đoạt được tiền là do bị hại chống trả, can ngăn kịp thời. Bị cáo thừa nhận hành vi mình đã thực hiện là vi phạm pháp luật.
Bị hại Phạm Thị Thu Th xác định: trong lúc vo gạo nấu cơm bán ở sàn nước thì bất ngờ bị Tr đi từ phía sau đến dùng tay trái bóp cổ, tay phải cầm dao kề vào cổ đe dọa kêu đưa tiền, vật Th xuống nền sàn nước, chị chống trả, tri hô thì được mọi người đến can ngăn, bắt giữ bị cáo. Do không bị thiệt hại về tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; về thương tích, chỉ bị đau vùng cổ, đã hết, nên từ chối giám định tổn hại sức khỏe và tâm thần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới thực hành công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả của vụ án tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm d khoản 2 điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen) từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tiêu hủy 01 cây dao xếp cán bằng gỗ kích thước (13,5 x 1,5) cm có gắn sẵn lưỡi lam được thu giữ trong quá trình điều tra, không còn giá Tr sử dụng.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu: đề nghị xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, học vấn không biết chữ, bị cáo có hạn chế tâm thần nên nhận thức pháp luật kém, tài sản thu hồi giao trả cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức hình phạt dưới khung cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
Sau khi nghe quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không tranh luận, xác định cáo trạng truy tố đúng tội, lời nói sau cùng bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không khiếu nại các chứng cứ được thu thập. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng Phạm Văn G không rõ lý do, tuy đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo đúng quy định. Quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai, sự vắng mặt của ông Giang không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong suốt quá trình điều tra; phù hợp lời khai bị hại, những người làm chứng Nguyễn Thái M, Trần Thị Hà Th, Phạm Văn G, Nguyễn Thị Y về diễn biến, tình tiết của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản xác nhận về tình trạng thương tích và phù hợp tang vật thu giữ, phù hợp với cơ chế hình thành vết xây sát của bị hại và anh Nguyễn Thái M. Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ.
Có đủ căn cứ xác định, khi nhìn thấy bị hại vo gạo chuẩn bị nấu cơm bán ở sàn nước, là hàng xóm biết trong người bị hại luôn có sẵn tiền nên bị cáo đã nảy sinh ý định cướp tiền của bị hại, để thực hiện hành vi của mình bị cáo lấy 01 cây dao xếp cán bằng gỗ kích thước, lưỡi kim loại màu trắng kích thước (13,5 x 1,5) cm đầu có gắn sẵn lưỡi lam nhanh chóng tiếp cận bị hại; tay phải cầm dao kề vào cổ, tay trái bị cáo bóp cổ bị hại, và nói“Đưa tiền cho tao, không thôi tao cắt cổ”, đồng thời vật bị hại xuống nền sàn nước, bị hại tri hô“Cư p, cư p” thì được anh Thái M nghe thấy chạy ra can ngăn, bị cáo dọa M“Tao cắt cổ mày luôn”, dùng dao chống trả gây thương tích cho M ở vùng cổ trái, bụng và bắp tay phải; Sau đó, M cùng Trần Thị Hà Th1 và Phạm Văn G (em và cha dượng của Thu Th) khống chế, bắt giữ bị cáo.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp và hướng đến xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của bị hại, con dao bị cáo sử dụng khống chế bị hại được xác định là“hung khí nguy hiểm”theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Với nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định: hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội“Cư p tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố đối với bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen) về tội danh, Điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Túc Tr là người trưởng thành, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng bất chấp, cố ý thực hiện với ý thức mong muốn hậu quả xảy ra. Với bản tính tha hóa, lười lao động, muốn có tiền mà không phải bỏ ra công sức lao động, khi nhìn thấy bị hại là người cùng xóm hàng ngày bán cơm, trong người luôn có tiền, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt; để thực hiện bị cáo đã dùng dao tiến đến câu cổ, kề dao, dùng lời lẽ đe dọa với mục đích cướp tài sản của bị hại, bị cáo không thực hiện được hành vi chiếm đoạt do bị hại chống trả, tri hô được mọi người kịp thời can ngăn, ngoài ý thức mong muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây lo sợ, bất an trong nhân dân trước tình hình các tội phạm xâm phạm về quyền sở hữu, mà cụ thể là cướp tài sản diễn ra ngày càng manh động, táo bạo, liều lĩnh như hiện nay; cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra là áp dụng hình phạt tù nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Ngoài hành vi dùng dao đe dọa cướp tài sản là yêu cầu bị hại đưa tiền thì bị cáo không nhằm mục đích chiếm đoạt vàng, không có ý định giết hay mục đích gì khác đối với bị hại, và hành vi dùng dao gây thương tích cho M là vi phạm pháp luật, nhưng M từ chối giám định, không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý, truy cứu trách nhiệm đối với bị cáo về tội danh khác là phù hợp.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải; chưa tiền án, tiền sự; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có hạn chế, bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, tài sản được thu hồi trao trả cho bị hại. Đây là các tình tiết, Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc là căn cứ giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào, trong đó kể cả khoản tiền tổn thất tinh thần nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hình phạt bổ sung: hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo không có nghề nghiệp cụ thể, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra - Công an huyện Chợ Mới đã trả cho bị hại 06 chiếc vòng, 02 chiếc bông tai và 5.500.000 đồng, đây là tài sản cá nhân của bị hại, việc giao trả các tài sản trên cho bị hại của Cơ quan điều tra là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Thu giữ 01 cây dao xếp cán bằng gỗ, lưỡi kim loại màu trắng kích thước (13,5 x 1,5)cm có gắn sẵn lưỡi lam. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét.
Lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét. Đối với, quan điểm cho rằng bị cáo có biểu hiện hạn chế tâm thần đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận cụ thể, rõ ràng, hoàn toàn ý thức, thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không có căn cứ nào thể hiện bị cáo hạn chế về tâm thần nên Hội đồng xét xử không chấp nhận với quan điểm đề nghị này của người bào chữa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Về tội danh và hình phạt áp dụng:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen) phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Túc Tr (Đen) 07 năm tù (Bảy năm). Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/10/2020.
2.Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) 01 cây dao xếp cán bằng gỗ kích thước, lưỡi kim loại màu trắng kích thước (13,5 x 1,5) cm có gắn sẵn lưỡi lam. Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới tạm quản lý.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ M i và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ M i ngày 04/12/2020).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang; - VKSND H. Chợ Mới; - Nhà Tạm giữ - Công an H. Chợ Mới; - CQTHAHS - Công an H. Chợ Mới; - CQĐT - Công an H. Chợ Mới; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Bộ phận Thi hành án - Tòa án; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu: HSVA; Văn phòng TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |