- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP P Đ yêu cầu bà H Th Niê phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P Đ số tiền (Tạm tính đến ngày 08/01/2020) là 276.231.219đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:55/2020/DS-ST Ngày: 29/9/2020 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
Ông Hồ Văn Hạnh.
Thư ký phiên toà: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toàn -kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 03 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXX-ST ngày 15/8/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P Đ.
Trụ sở: 45 Lê D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T-Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn B-Giám đốc phòng giao dịch E.
Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Trịnh Trung T, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 25/2020/GUQ-CNĐLPD ngày 15/01/2020 của Ngân hàng TMCP P Đ – Chi nhánh Đ – Phòng giao dịch E). Đia chỉ: 101 Nguyễn T, thi trấn E, huyện Ea K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Bị đơn: Bà H T Niê Kdăm.
Địa chỉ: Buôn K, xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/01/2020 và tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Trịnh Trung T trình bày:
Ngày 30 tháng 7 năm 2018 bà H T Niê Kdăm ký hợp đồng tín dụng số 0954/2018/HDTD-OCB-CN để vay Ngân hàng TMCP P Đ – Chi nhánh Đắk Lắk – Phòng giao dịch E số tiền 250.000.000 đồng, mục đích bổ sung, đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, lãi suất 11,5583%/năm và được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần. Thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày rút vốn lần đầu, phương thức vay trả góp, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 25/7/2020. Trả nợ gốc: Chia làm 02 kỳ (12 tháng/kỳ), kỳ đầu trả nợ gốc là 220.000.000 đồng, kỳ cuối trả nợ gốc 30.000.000 đồng và trả nợ vào ngày 25 tháng 7 của năm, kỳ trả nợ gốc đầu tiên ngày 25/7/2019. Trả nợ lãi 6 tháng/lần theo dư nợ thực tế, kỳ trả lãi đầu tiên ngày 25/01/2019. Để đảm bảo cho khoản nợ trên bà H T Niê Kdăm đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P Đ các tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 cụ thể:
1.Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, diện tích đất 5.307,3m2, tọa lạc tại xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 647924 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/7/2018 mang tên bà H T Niê Kdăm.
2.Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 240, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 4.583m2, tọa lạc tại xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 647925 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/7/2018 mang tên bà H T Niê Kdăm.
Quá trình thực hiện đến nay bà H T Niê Kdăm không trả cho Ngân hàng được đồng nào. Nay Ngân hàng TMCP P Đ yêu cầu bà H Th Niê phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P Đ số tiền (Tạm tính đến ngày 08/01/2020) là 276.231.219đ (Hai trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười chín đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.622.272 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.608.947 đồng và tiếp tục tính lãi suất kể từ ngày 09/01/2020 cho đến khi bà H T Niê Kdăm thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp bà H T Niê Kdăm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp đã ghi trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bà H T Niê thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại tài sản đã thế chấp đã ghi trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 cho bà H T Niê Kdăm.
-Đối với bị đơn bà H T Niê Kdăm đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Toà án không tiến hành kiểm tra giao nộp chứng cứ và hoà giải với bà H T Niê Kdăm được.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật, Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H T Niê Kdăm có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P Đ số tiền (Tạm tính đến ngày 08/01/2020) là 276.231.219đ (Hai trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười chín đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.622.272 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.608.947 đồng và tiếp tục tính lãi suất kể từ ngày 09/01/2020 cho đến khi bà H T Niê Kdăm thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp bà H T Niê Kdăm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp đã ghi trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên toà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà H T Niê Kdăm mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P Đ HĐXX xét thấy: Vào ngày 30 tháng 7 năm 2018 bà H T Niê Kdăm ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP P Đ – Chi nhánh Đắk Lắk– Phòng giao dịch E theo hợp đồng tín dụng số 0954/2018/HDTD-OCB-CN để vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích bổ sung, đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, lãi suất 11,5583%/năm, thời hạn vay 24 tháng.
Để đảm bảo khoản nợ trên bà H T Niê Kdăm đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P Đ các tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 cụ thể:
-Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, diện tích đất 5.307,3m2, tọa lạc tại xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 647924 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/7/2018 mang tên bà H T Niê Kdăm.
-Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 240, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 4.583m2, tọa lạc tại xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 647925 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/7/2018 mang tên bà H T Niê Kdăm.
Bà H T Niê Kdăm đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, vi phạm thời hạn thanh toán nợ đã ký với Ngân hàng. Nay Ngân hàng TMCP P Đ yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà H T Niê Kdăm có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P Đ số tiền (Tạm tính đến ngày 08/01/2020) là 276.231.219đ (Hai trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười chín đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.622.272 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.608.947 đồng và tiếp tục tính lãi suất kể từ ngày 09/01/2020 cho đến khi bà H T Niê Kdăm thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp bà H T Niê Kdăm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp đã ghi trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và phù hợp với các Điều 463; 466; 468 BLDS năm 2015 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà H T Niê Kdăm phải chịu án phí DSST.
- Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 463; 466; 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P Đ.
Buộc bà H T Niê Kdăm có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P Đ số tiền (Tạm tính đến ngày 08/01/2020) là 276.231.219đ (Hai trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười chín đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.622.272 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.608.947 đồng và tiếp tục tính lãi suất kể từ ngày 09/01/2020 cho đến khi bà H T Niê Kdăm thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp bà H T Niê Kdăm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp đã ghi trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bà H T Niê Kdăm trả hết nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại các tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0954/2018/BĐ ngày 30/7/2018 cho bà H T Niê Kdăm.
2.Về án phí: bà H T Niê Kdăm phải chịu 13.811.000đ án phí DSST.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP P Đ 6.905.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004829, ngày 02/3/2020, tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đăk Lăk;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKS tỉnh, thị xã;
- THA dân sự thị xã;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP.
(Đã ký)
Đinh Thị Hường
THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKS tỉnh, thị xã; - THA dân sự thị xã; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đinh Thị Hường |