- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2019/HS-ST Ngày: 14-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Diệp và ông Lê Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Ngọc H - sinh ngày 03/8/1975 tại: thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà 08, ngõ 353 đường L, phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ và có 3 con; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 50/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1948; địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Hoàng Đức A – Sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hoàng Thị Kiều A – Sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 13, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hoàng Thị Quế A – Sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hoàng Thị Vân A – Sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ 22, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hoàng Thị Lan A – Sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hoàng Thị Phương A – Sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 1, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Đức A, chị Hoàng Thị Quế A, chị Hoàng Thị Vân A, chị Hoàng Thị Lan A, chị Hoàng Thị Phương A là Chị Hoàng Thị Kiều A; Địa chỉ: Tổ 13, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (theo Giấy ủy quyền lập ngày 22, 23 và ngày 29/5/2019) Vắng mặt.
2.3. Bị đơn dân sự: Công ty TNHH L
Địa chỉ: Lô 32 Đại lộ V, phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh V - Giám đốc; Có mặt.
2.4. Người làm chứng:
- Anh Lưu Văn H – Sinh năm 1989; Vắng mặt.
- Anh Lưu Văn Th – Sinh năm 1992; Vắng mặt.
- Chị Từ Thị H – Sinh năm 1990; Vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị Kim A – Sinh năm 1992; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Ngọc H có giấy phép lái xe hạng E, do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp, có giá trị đến ngày 26/6/2020. Hải có ký hợp đồng lao động lái xe thuê cho Công ty TNHH Lan V (địa chỉ: phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa) và được giao lái xe ô tô biển kiểm soát 36B – 018.37 chở khách từ thành phố Thanh Hóa đến bến xe G, Hà Nội và ngược lại.
Khoảng 3 giờ 45 phút ngày 15/5/2019, Vũ Ngọc H điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 36B – 018.37 chở khách từ thành phố Th theo quốc lộ 1A để đi đến bến xe G, thành phố Hà Nội. Khoảng 4 giờ 46 phút cùng ngày, Hải điều khiển xe ô tô đi theo chiều đường Th – N, trên làn đường giành cho xe cơ giới phía bên phải đến khu vực giao nhau giữa Quốc lộ 1A với đường Q (phía bên phải) và đường S (phía bên trái) hướng Th – N, là khu vực đông dân cư trong trung tâm thành phố. Trên quốc lộ 1A có phân chia hai chiều đường (Th – N và ngược lại) bằng giải phân cách, mỗi chiều đường rộng 9,50 m; khu vực giao nhau có điểm mở của giải phân cách, hai đầu điểm mở cách nhau 82 m. Dọc theo vỉa hè Quốc lộ 1A có lắp đèn chiếu sáng. Tại khu vực đường giao nhau có lắp hệ thống đèn tín hiệu giao thông, lúc này chỉ có tín hiệu đèn vàng nhấp nháy (cảnh báo các phương tiện giao thông được phép đi qua khu vực giao nhau nhưng phải đảm bảo an toàn). Tại vị trí hai đầu giải phân cách trên Quốc lộ 1A có vạch sơn kẻ đường giành cho người đi bộ qua đường. Khi xe ô tô do H điều khiển đến trước khu vực đường giao nhau (vị trí đầu xe ô tô ngang với cửa hàng Thế Giới Di Động bên phải chiều đường), cách khoảng 20 mét về phía trước đầu xe ô tô, H nhìn thấy bà Nguyễn Thị L đang dắt xe đạp chạy bộ qua Quốc lộ 1A từ phường B và đang ở khu vực giữa đường chạy sang hướng đường Q, nhưng H không nhường đường cho bà L mà tiếp tục điều khiển xe ô tô đi tiếp với vận tốc 64 km/h đi thẳng theo chiều Th – N. Khi bà L dắt xe đạp chạy đến vị trí cách mép đường bên phải chiều đường Th – N khoảng 2 mét (là khu vực Km 277 +750 quốc lộ 1A thuộc Tổ 3, phường Tr, thành phố T) thì xe ô tô do H điều khiển cách bà L khoảng 5 đến 6 mét. Lúc này H mới giảm tốc độ, đạp hết hành trình phanh của xe ô tô, đồng thời đánh lái sang phải để tránh nhưng đầu xe ô tô vẫn va chạm vào xe đạp và bà L, đẩy xe đạp và người bà L văng về phía trước khoảng 5 mét, đổ, ngã xuống mặt đường theo chiều Th - N, nằm tại vị trí lề đường bên phải. Hậu quả làm bà L bị chấn thương sọ não tử vong tại chỗ.
Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; tạm giữ xe ô tô biển kiểm soát 36B – 018.37 của Công ty TNHH L và xe đạp của bà Nguyễn Thị L để tiến hành điều tra làm rõ.
Kết quả khám nghiệm xác định: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là km 277 + 750 Quốc lộ 1A thuộc Tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, tại khu vực giao nhau giữa Quốc lộ 1A với đường Q thuộc phường Tr, đường S thuộc phường B. Nơi giao nhau trên mặt đường Quốc lộ 1A dải nhựa thẳng, phẳng. Trên quốc lộ 1A có giải phân cách phân chia hai chiều đường Th – N và ngược lại, mỗi chiều đường rộng 9,50 m. Hai đầu giải phân cách bỏ hở tại nơi giao nhau với khoảng cách là 82 mét. Tại vị trí đầu giải phân cách ở hai hướng đi Thanh hóa và hướng đi Hà Nội có vạch kẻ sơn đường giành cho người đi bộ sang đường.
Kết quả khám phương tiện xe ô tô nhãn hiệu THACO mầu đỏ, trắng, vàng biển kiểm soát 36 B – 018.37 xác định:
- Kính chắn gió phía trước bên phụ bị nứt vỡ diện kích thước (59 x 43)cm , điểm thấp nhất cách mặt đất 148 cm;
- Mặt ngoài ba đờ sốc phía trước bên phụ có vết nứt vỡ bong tróc sơn và ma tít diện kích thước (5 x 3, 6)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 44 cm, điểm gần nhất cách thành xe bên phụ 54,5 cm;
- Mặt ngoài phía trên biển kiểm soát phía trước có vết nứt vỡ nhựa diện kích thước (6 x 6)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 53 cm, điểm gần nhất cách cạnh biển kiểm soát bên phụ 5cm;
- Mặt ngoài phía dưới ba đờ sốc có vết nứt vỡ bong tróc sơn và ma tít diện kích thước (1, 5 x 1 ) cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 45 cm, điểm gần nhất cách thành xe bên phụ 114 cm;
- Mặt ngoài phía trước, dưới ba đờ sốc bên lái có vết nứt vỡ bong tróc sơn và ma tít diện kích thước (1,5 x 7)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 43 cm, điểm gần nhất cách thành xe bên lái 78 cm
- Trên xe ô tô có lắp thiết bị giám sát hành trình ký hiệu BA- BLACK BOX số IMIEI: 863071019801965 của Công ty TNHH phát triển công nghệ điện tử Bình Anh.
Kết quả khám phương tiện xe đạp nhãn hiệu Asanta mầu trắng xám xác định:
- Tay nắm ghi đông bên trái có vết trượt xước mài mòn cao su diện kích thước (4,5 x 2,5) cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 99,5 cm;
- Mặt ngoài bên trái giỏ để hàng phía trước có vết trượt xước bong tróc nhựa diện kích thước (19,5 x 1)cm. Điểm thấp nhất cao cách mặt đất 91,5 cm;
- Đầu ngoài trục bánh trước bên phải bám dính dị vật mầu trắng, đỏ, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 33, 5 cm.
- Bàn đạp bên phải có vết trượt xước, vỡ nhựa diện kích thước (6,5 x 2,7)cm;
- Mặt ngoài đùi xe bên phải bám dính dị vật mầu đỏ diện kích thước (0,5 x 0,5)cm;
- Khung dọc bị bẹp mép diện kích thước (16 x 3)cm, bị đẩy theo chiều từ trái sang phải;
- Hộp xích bị đẩy theo chiều từ trái sang phải, áp sát vào má bên phải lốp sau;
- Mặt ngoài chắn bùn bên phải bị bẹp méo trên diện kích thước (3 x 1,5)cm, đẩy theo chiều từ phải sang trái, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 40 cm;
- Đầu ngoài phía dưới trục bánh sau bên phải bám dính dị vật mầu trắng, vàng diện kích thước (0,5 x 0,5)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 32 cm;
- Chân chống bên phải và lò so chân chống bên phải bám dính dị vật mầu đỏ xanh kích thước (16 x 3)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 26 cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị L:
Khám bên ngoài xác định:
- Trên tóc có bám dính máu và sỏi đá. Vùng thái dương đỉnh đầu và chẩm bị xây sát da, bầm tụ máu, sưng nề trên diện kích thước (20 x 13)cm;
- Mặt sau ngoài 1/2 dưới cẳng tay và 2/3 trên cẳng tay phải có diện xây sát da bầm tụ máu kích thước (20 x 9)cm;
- Mặt mu trên bàn tay trái có vết xây sát da bầm tụ máu diện kích thước (6 x 4)cm;
- Vùng thắt lưng và 1/2 trên mông có diện xây sát da bầm tụ máu mài trượt kích thước (25 x 16)cm;
- Mặt mu bàn tay phải có diện bầm tụ máu kích thước (8 x 6) cm;
- Gối phải có diện xây sát da kích thước (2 x 1)cm
Giải phẫu vùng đầu xác định: Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương và chẩm diện kích thước (10 x 12)cm, tụ máu màng xương tương ứng. Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng chẩm diện vỡ đo được kích thước (9 x 4)cm, hướng vỡ lan xuống nền sọ, qua diện vỡ có nhiều máu và dịch não chảy ra.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 24/KLGĐ - PC09-PY ngày 25/5/2019của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị L do chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ, chảy máu não)
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Vũ Ngọc H hành nghề lái xe ô tô trong thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Vũ Ngọc H 01 (một) giấy phép lái xe số 380053383472 mang tên Vũ Ngọc H do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 26/6/2015 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành hình phạt cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Vũ Ngọc H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Sau khi tai nạn xảy ra, giữa đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo Vũ Ngọc H và đại diện Công ty TNHH L là ông Phạm Anh V đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 145.000.000 đồng. Chị Hoàng Thị Kiều A là đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại. Đến nay, gia đình không có ý kiến gì, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối bị cáo với Vũ Ngọc H.
Trong quá trình điều tra, bị đơn dân sự Công ty TNHH L do ông Phạm Anh V trình bày: Công ty TNHH L có thuê bị cáo Vũ Ngọc H lái xe thuê cho Công ty và giữa Công ty với bị cáo Vũ Ngọc H có hợp đồng lao động. Sáng ngày 15/5/2019 bị cáo Vũ Ngọc H được Công ty giao xe ô tô BKS 36B – 01837 chở khách đi từ thành phố Th đến bến xe Gi, thành phố Hà Nội khi đi đến tổ 3, thuộc địa phận phường Tr, thành phố T thì gây ra tai nạn giao thông khiến bà Nguyễn Thị L tử vong. Ông và bị cáo H đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 145.000.000 đồng. Ông đã thực hiện xong việc giao tiền bồi thường, đến nay ông không có ý kiến gì về phần trách nhiệm dân sự.
Trong quá trình điều tra những người làm chứng đều khai nhận: Ngày 15/5/2019, được chứng kiến vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực tổ 3, phường Tr, thành phố T, diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 24/KLGĐ – PC09-PY ngày 25/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/5/2019, Vũ Ngọc H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36B – 018.37 đi trên quốc lộ 1A hướng Th – N. Khoảng 4 giờ 46 phút cùng ngày, khi đi đến Km 277 + 750 là nơi giao nhau giữa Quốc lộ 1A với đường Q và đường S thuộc Tổ 3, phường Tr, thành phố T. H điều khiển xe với vận tốc 64 km/h vượt quá tốc độ quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 6, chương II – Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải. Phát hiện phía trước, trong khu vực ngã tư khoảng 20 mét có bà Nguyễn Thị L đang dắt xe đạp đi bộ qua đường nhưng H không giảm tốc độ, không nhường đường cho bà L, hậu quả: xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào bên phải xe đạp và bà L làm bà L ngã xuống nền đường, bị chấn thương sọ não, tử vong tại chỗ đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 của Luật Giao thông đường bộ thì: Tín hiệu đèn giao thông có ba màu quy định như sau:
a/....
c/ Tín hiệu vàng là phải dừng trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
….
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Ngọc H đã phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm luật giao thông đường bộ, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông, sự an toàn về tính mạng của bà Nguyễn Thị L được luật hình sự bảo vệ. Trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố T ngày càng gia tăng, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ là vấn đề luôn được sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Khi tham gia giao thông có nhiều người điều khiển phương tiện giao thông đã không chấp hành đúng các quy định về an toàn giao thông dẫn đến những tai nạn thương tâm. Để giảm bớt thực trạng này, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải có những quyết định xử phạt thật nghiêm khắc đối với những trường hợp vi phạm luật giao thông đường bộ. Cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Vũ Ngọc H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" như nội dung bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, chưa từng có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, được gia đình bị hại làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Văn H là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, được gia đình bị hại làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên căn cứ vào các điều kiện được hưởng án treo thì cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về phạt bổ sung: Cần cấm bị cáo Vũ Ngọc H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn theo quy định của pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm bà Nguyễn Thị L tử vong. Quá tình điều tra, bị cáo và đại diện Công ty TNHH Ln do ông Phạm Anh V làm đại diện (Người đại diện theo pháp luật của Công ty có xe ô tô gây tai nạn) đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 145.000.000 đồng, bao gồm khoản chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần. Trong đó, bị cáo Vũ Ngọc H tự nguyện bồi thường 80.000.000 đồng, Công ty TNHH L bồi thường 65.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T có yêu cầu giám định tỷ lệ thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 36B -018.37 và xe đạp của bị hại Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, ông Phạm Anh V và người đại diện hợp pháp của bị hại từ chối giám định do thiệt hại không lớn và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 36B - 018.37 kèm theo giấy tờ xe mang tên chủ sở hữu là Công ty TNHH L. Sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn giao thông trên phương tiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho chủ phương tiện là Công ty TNHH L là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đối với chiếc xe đạp kiểu dáng mini nhãn hiệu Ansanta màu trắng xám của bị hại là bà Nguyễn Thị L. Sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn giao thông trên phương tiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho đại diện gia đình bị hại là chị Hoàng Thị Kiều A (là con của bị hại) là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số 380053383472 mang tên Vũ Ngọc H do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 26/6/2015 được chuyển theo hồ sơ vụ án là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Vũ Ngọc H do đó cần trả lại cho bị cáo Vũ Ngọc H. Tuy nhiên do áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô có thời hạn nên cần tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành hình phạt bổ sung.
Đối với Công ty TNHH L là chủ phương tiện gây tai nạn giao thông xe ô tô biển kiểm soát 36B-018.37. Công an đã tạm giữ xe ô tô nêu trên để phục vụ công tác điều tra, nay Công ty TNHH L đã nhận lại xe và không có ý kiến gì. Công Ty TNHH L đã thuê bị cáo Vũ Ngọc H để lái xe ô tô nêu trên có hợp đồng lao động nội dung hợp đồng thể hiện nếu lái xe gây tai nạn do lỗi của lái xe thì lái xe phải chịu trách nhiệm bồi thường. Việc bị cáo gây tai nạn giao thông khiến bà Nguyễn Thị L tử vong là do lỗi của bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, đại diện Công ty TNHH L đã tự nguyện cùng bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường lại cho Công ty TNHH L, do vậy không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; khoản 1, khoản 2 Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 của Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 14/11/2019.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Vũ Ngọc H hành nghề lái xe ôtô trong thời gian 18 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo Vũ Ngọc H 01 (một) giấy phép lái xe số 380053383472 mang tên Vũ Ngọc H do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 26/6/2015 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Ngọc H.
(Giấy phép lái xe nêu trên được chuyển theo hồ sơ vụ án)
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Ngọc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, bị đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Bị đơn dân sự. - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Ngọc Tú |