- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– Bản án số: 55/2019/HS-ST Ngày: 18/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Quốc Trung và bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên
tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:49/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
TRẦN QUANG L, sinh ngày 04 tháng 8 năm 1983
Nơi ĐKHKTT: Phố Đ, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở hiện nay: Số nhà 954, tổ 06, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Trần Quang M, sinh năm 1954 và bà Lưu Thị H, sinh năm 1955; có vợ là Vương Thị H1 và 01 con sinh năm 2010; Tiền sự: không;
Tiền án: 01 Ngày 12/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/10/2018;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2019 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại khu vực trước cửa nhà L số nhà 954, tổ 06, phường P, thành phố H, cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang Trần Quang L có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói giấy nhỏ bên trong có chứa chất ma túy dạng cục màu trắng. Tại bản kết luận giám định số 51/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết luận:
"Chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy trong phong bì niêm phong ghi tên Trần Quang L gửi giám định có khối lượng 0,18g (không phẩy mười tám gam), là ma túy, loại Heroin".
Qua khám khám xét chỗ ở cơ quan điều tra có thu giữ hai mảnh giấy màu xanh lá cây kích thước 20 x 24cm và một mảnh giấy màu xanh lá cây kích thước 7 x 7cm.
Bản Cáo trạng số 48/CT-VKSTP ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Trần Quang L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Quang L khai nhận: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07tháng 3 năm 2019, Long đi từ nhà đến khu vực cầu Hòa Bình để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi L mua từ người đàn ông này hai gói ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau đó, L mang số ma túy về nhà cất giấu. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, L đem hai gói ma túy đi tìm nơi sử dụng. Khi ra đến trước cửa nhà thì bị tổ Công tác Công an thành phố Hòa Bình phát hiện và bắt quả tang.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Quang L để xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong nhận được mức án thấp nhất để sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra:
Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các tài liệu, đồ vật, chứng cứ đã thu thập được, do đó có đủ cơ sở xác định: ngày 07 tháng 3 năm 2019, Trần Quang L có hành vi tàng trữ trái phép 0,18g chất ma túy loại Heroin để sử dụng cho bản thân. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua và cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho mình, phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm đó là tình tiết tăng nặng quy định tại điển h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích.
Về hình phạt bổ sung xét về nhân thân và điều kiện kinh tế của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập kinh tế nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Quang L, bị cáo khai là mua từ một người đàn ông không quen biết, nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng khi nào xác định được sẽ xem xét sử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- 01 ( một ) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy mang tên Trần Quang L đây là chất ma túy nhà nước cấm sử dụng, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 ( một ) phong bì niêm phong vật chứng khám xét nhà ở mang tên Trần Quang L, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường P, bên trong chứa mảnh giấy màu xanh lá cây kích thước 20 x 24cm và một mảnh giấy màu xanh lá cây kích thước 7 x 7cm không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Trần Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Trần Quang L 18 ( Mười tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07 tháng 3 năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng:
- 01 ( một ) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy mang tên Trần Quang L đây là chất ma túy nhà nước cấm sử dụng, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 ( một ) phong bì niêm phong vật chứng khám xét nhà ở mang tên Trần Quang L, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình và có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 54/BB ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa Công an thành phố Hòa Bình với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.
3.Về án phí: Bị cáo Trần Quang L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh HB. - Sở tư pháp tỉnh HB. - VKSND thành phố HB. - Công an thành phố HB. - Thi hành án hình sự TPHB. - Chi cục Thi hành án DS TPHB. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Tuấn |