- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2019/HSST Ngày 17-8-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Tài. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Hoài Hiêm. 2. Ông Trần Sĩ Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Tr Thọ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 8 năm 2019, tại Trường trung học cơ sở An Hòa, thuộc xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Nhực Tr, sinh năm 1991, tại tỉnh Long An, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp Lộc Thạnh, xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, chỗ ở hiện nay: Ấp An Phú, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá (học vấn) 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị V; vợ: Nguyễn Thị Diệu H; con: Có 03 người, người lớn sinh năm 2012, người nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 45/QĐ-TA ngày 12/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng đối với Lê Nhực Tr về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/6/2019, tạm giam ngày 08/6/2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Anh Phạm Thành T, sinh năm 1991. Trú tại: Ấp G, xã T, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Hoàng G, sinh năm 1980. Trú tại: Khu phố L, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 05/6/2019, tại khu vực quán cà phê “Vườn Thông” thuộc khu phố Lộc Du, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Công an huyện Trảng Bàng tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Nhực Tr đang tàng trữ trái phép 03 bịch nylon chứa chất tinh thể trong suốt (nghi là ma túy). Thu giữ 03 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt, tiền Việt Nam 1.500.000 đồng và một số vật chứng khác có liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Tr khai nhận: Là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên mua ma túy về để dành sử dụng. Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/6/2019, Tr tiếp tục điều khiển xe môtô biển số 62T1-1704 đến khu vực xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên khoảng 30 tuổi tên Huy (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 03 bịch chất ma túy với giá 4.900.000 đồng. Sau đó, Tr cất giấu ma túy trong người rồi đem đến quán cà phê “Vườn Thông” để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 816/KL-KTHS ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 03 bịch nylon trong suốt được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 7,2110 gam.
Đối với Lê Nhực Tr có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Trảng Bàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Riêng người thanh niên tên Huy đã bán chất ma túy cho Tr, hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
Toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng tạm giữ chờ xử lý.
Kê biên tài sản: Tr không có tài sản riêng nên không kê biên.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSTrB ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Nhực Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lê Nhực Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 07 năm tù; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý toàn bộ vật chứng đã thu giữ trong vụ án theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đã biết lỗi, bị cáo rất ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được quay về nhà làm lại từ đầu và bị cáo hứa sẽ trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các vật chứng được thu giữ, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Vào ngày 05/6/2019, tại quán cà phê “Vườn Thông” thuộc khu phố Lộc Du, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Lê Nhực Tr tàng trữ trái phép 7,2110 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đối với bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Nhực Tr đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người đã có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo biết rõ hành vi phạm tội lần này của bị cáo là vi phạm pháp luật, là tệ nạn của xã hội, bị Nhà nước đặc biệt nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện vì mục đích để có ma túy thỏa mãn cơn nghiện của bị cáo. Cần xử lý nghiêm bị cáo bằng biện pháp cách ly ra khỏi xã hội để đảm bảo tính răn đe, giao dục và phòng ngừa tội phạm.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt;
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số: 816/KL-KTHS, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Thái và Trợ lý giám định Thi Sĩ Phương, sau giám định bên trong còn lại 6,6990 gam chất ma túy, là loại Methamphetamine, là chất thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Việt Nam 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Mobistar, số Seri: 0123456789ABCDEF; 01 xe môtô loại Dream, biển số 62T1-1704, số khung: 017052, số máy: 017052; 01 giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 001740, biển số: 62T1-1704, là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Nhực Tr 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2019.
2/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số: 816/KL-KTHS, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Thái và Trợ lý giám định Thi Sĩ Phương, sau giám định bên trong còn lại 6,6990 gam chất ma túy, là loại Methamphetamine.
- Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Nhực Tr: Tiền Việt Nam 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Mobistar, số Seri: 0123456789ABCDEF; 01 (Một) xe môtô loại Dream, biển số 62T1-1704, số khung: 017052, số máy: 017052; 01 (Một) giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 001740, biển số: 62T1-1704.
3/ Án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Nhực Tr phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H. Trảng Bàng; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - CA H. Trảng Bàng; - NTG CA. H. Trảng Bàng; - Chi cục THADS H. Trảng Bàng; - TATN; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tài |