vanban.org

Bản án 55/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017; X phạt: Bị cáo Ninh Hữu T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 08… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Hữu T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PH GIÁO
T NH ÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HS-ST.
Ngày 08-10-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH GIÁO, T NH ÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Ông Phạm Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương t sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 63/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ninh Hữu T, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: 220/28, tổ 64, khu phố 7, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Hữu M, sinh năm 1961 và bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1960; tiền án: Không, tiền sự: Kh ng; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Đỗ Kỳ A, sinh năm 1999; thường trú: Ấp TH, ã V, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đỗ Kỳ A: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; thường trú: Ấp TH, ã V, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu – Là mẹ ruột của Đỗ Kỳ A; ngày 20/9/2019, bà Nguyễn Thị L có đơn in t vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Bà Ninh Kim H, sinh năm 1974; thường trú: 40/4G, đường PH, Phường 12, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; ngày 20/9/2019, bà Ninh Kim H có đơn in t vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh M2, sinh năm 1981; thường trú: Ấp Q, ã N, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Văn P1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ninh Hữu T có giấy ph p lái e t hạng C số 790145887722 do Sở Giao th ng vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/5/2019, T lái xe thuê cho bà Ninh Kim H, sinh năm 1974; thường trú: 40/4G, đường PH, Phường 12, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, Ninh Hữu T điều khiển e t tải biển số 51C-011.77 chở theo Đỗ Kỳ A (phụ e) lưu th ng trên đường ĐT 741 theo hướng từ xã TB, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Khi đến đoạn đường thuộc ấp BL, ã PH1, huyện Phú Giáo, T điều khiển e lấn qua làn đường e m t nên phần đầu e t bên phải do T điều khiển đụng vào phía sau bên trái e t tải biển số 49C-091.50 do Lê Văn P1 điều khiển đang dừng phía trước cùng chiều sát lề đường ĐT 741 (tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải cách m p đường 0,1 m t). Tai nạn ảy ra làm Đỗ Kỳ A t vong tại hiện trường, 02 phương tiện bị hư hỏng. Quá trình điều tra Ninh Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản kết luận giám định pháp y t thi số 360/GĐPY ngày 21/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Đỗ Kỳ A do choáng đa chấn thương (đứt, dập bó mạch thần kinh đùi phải và cẳng chân trái, gãy ương đùi phải và trái nhiều đoạn, chảy mất máu kh ng hồi phục).

Bản kết luận định giá tài sản ngày 13/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: Giá trị thiệt hại của e t tải biển số 49C-091.50 là 3.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ:

- 01 e t tải biển số 51C – 011.77, số khung RLPVA17BPAC000172, số máy D4DBA425286 do bà Ninh Kim H làm chủ sở hữu. Ngày 19/6/2019, Cơ quan CSĐT C ng an huyện Phú Giáo đã trả cho bà H chiếc e t tải biển số 51C – 011.77, bà H nhận e và kh ng yêu cầu gì thêm.

- 01 e t biển số 49C – 091.50, số máy WP10340E321615D025214, số khung RNHC3400AFC059918 do bà Nguyễn Thị Thanh M2 làm chủ sở hữu. Ngày 13/6/2019, Cơ quan CSĐT C ng an huyện Phú Giáo đã trả bà M2 chiếc e t tải biển số 49C – 091.50, bà M2 nhận e và kh ng yêu cầu gì thêm.

- 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790145887722 mang tên Ninh Hữu T do Sở Giao th ng vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/5/2019.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSPG, ngày 22/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Ninh Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng t tuyên phạt bị cáo Ninh Hữu T mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại kh ng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên kh ng em t.

Về lý vật chứng: Quá trình điều tra đã trả lại tài sản hợp pháp cho người sở hữu hợp pháp các tài sản gồm:

01 e t tải biển số 51C – 011.77, số khung RLPVA17BPAC000172, số máy D4DBA425286;

01 e t biển số 49C-091.50, số máy WP10340E321615D025214, số khung RNHC3400AFC059918 nên không xem xét.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Ninh Hữu T do kh ng cấm bị cáo hành nghề điều khiển e ô tô.

Tại phiên tòa, bị cáo Ninh Hữu T thừa nhận hành vi tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người và hư hỏng tài sản. Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường ong số tiền 150.000.000 đồng; bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo in được hưởng án treo và kh ng có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị L vắng mặt, tuy nhiên lời khai trong quá trình tố tụng và đơn in t vắng mặt thừa nhận đã nhận bồi thường ong số tiền 150.000.000 đồng của bị cáo và không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường; về hình phạt, đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Tại phiên tòa, bị đơn dân sự bà Ninh Kim H vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình tố tụng và nội dung đơn in t vắng mặt thừa nhận e t biển số 51C-011.77 là của bà Ninh Kim H, bị cáo T điều khiển xe gây tai nạn giao th ng, bà đã nhận lại e, không yêu cầu bồi thường và kh ng có ý kiến khác nên không xem xét.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh M2 vắng mặt, tuy nhiên lời khai trong quá trình tố tụng thừa nhận xe ô tô biển số 49C-091.50 là của bà Nguyễn Thị Thanh M2, ngày 13/6/2019, bà M2 đã nhận lại e, kh ng yêu cầu bồi thường và cũng kh ng có ý kiến khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Bị cáo Ninh Hữu T có giấy ph p lái e t hạng C theo quy định. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, tại đoạn đường ĐT 741 thuộc tổ 1, ấp BL, ã PH1, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ninh Hữu T điều khiển e t biển số 51C-011.77 chở theo Đỗ Kỳ A lưu th ng trên đường ĐT 741 theo hướng từ xã TB, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương lấn qua làn đường e m t va chạm với e t biển số 49C-091.50 do ông Lê Văn P1 điều khiển đang dừng cùng chiều sát lề đường ĐT 741. Tai nạn ảy ra làm Đỗ Kỳ A t vong và hư hỏng tài sản.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y t thi số 360/GĐPY ngày 21/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Đỗ Kỳ A do choáng đa chấn thương (đứt, dập bó mạch thần kinh đùi phải và cẳng chân trái, gãy ương đùi phải và trái nhiều đoạn, chảy mất máu kh ng hồi phục); Bản kết luận định giá tài sản ngày 13/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: Giá trị thiệt hại của e t biển số 49C-091.50 là 3.200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Ninh Hữu T điều khiển e t kh ng tuân thủ Luật Giao th ng đường bộ (không đi đúng phần đường, làn đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 của Luật Giao th ng đường bộ) gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người và hư hỏng tài sản.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Ninh Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo Ninh Hữu T là nguy hiểm cho ã hội, âm phạm đến trật tự an toàn giao th ng đường bộ, âm phạm đến tính mạng của người tham gia giao th ng. Do đó, cần có mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Kh ng có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đại diện hợp pháp của bị hại in giảm nhẹ hình phạt; do đó, Hội đồng t áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo Ninh Hữu T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, r ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có khả năng tự cải tạo, giáo dục và nếu kh ng bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì kh ng gây ảnh hưởng ấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội lần đầu, khi quyết định hình phạt kh ng cần cách ly bị cáo ra khỏi ã hội; vì thế, Hội đồng t áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

X t ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

X t ý kiến của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường ong, kh ng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên Hội đồng t kh ng em t.

Về lý vật chứng: Quá trình điều tra đã trả lại tài sản hợp pháp cho người sở hữu hợp pháp các tài sản gồm: 01 e t tải biển số 51C – 011.77, số khung RLPVA17BPAC000172, số máy D4DBA425286; 01 e t biển số 49C-091.50,

số

máy

WP10340E321615D025214,

số

khung RNHC3400AFC059918 nên Hội đồng t không xem xét.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Ninh Hữu T do kh ng cấm bị cáo hành nghề điều khiển e t .

Về án phí sơ th m: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 48; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được s a đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên :

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017;

X phạt: Bị cáo Ninh Hữu T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 08/10/2019).

Giao bị cáo Ninh Hữu T cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian th thách.

Trường hợp bị cáo Ninh Hữu T thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Ninh Hữu T.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2019.

4. Về án phí hình sự sơ th m: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Ninh Hữu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ