- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hồ Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55 /2019/HNGĐ-ST Ngày: 17-06-2019 V/v “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Bá Xanh
Bà Trần Thị Kim Ưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Hà – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 17 tháng 06 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2019/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 04 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 06 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị N; Sinh năm 1991.
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm 12, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ cư trú hiện nay: 37520 OSTERODE AM HARZ, STELLER ACKERWEG 13 (CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC); vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Đình L; Sinh năm 1969
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú hiện nay: 37081 GOTTINGEN KARL - MARX – STR.124 (CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC); vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Hồ Thị N trình bày:
Chị và anh Lê Đình L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An vào ngày 12/03/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc tại nước Cộng hòa liên bang Đức. Đến khoảng tháng 11 năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có con chung nên thường xuyên bức xúc, cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Hiện tại, chị Hồ Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đình L.
Về con chung: Chị và anh Lê Đình L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và Anh Lê Đình L không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hồ Thị N đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên Bang Đức. Để giải quyết việc ly hôn chị đã về Việt Nam làm thủ tục ly hôn với anh Lê Đình L tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Nhưng vì công việc nên chị phải tiếp tục sang Cộng Hòa liên Bang Đức để làm việc. Do đó, chị không thể trực tiếp tham gia phiên tòa và chị đã làm đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, xét xử vụ án vắng mặt chị. Đồng thời chị đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến bố của chị là ông Hồ Văn T, sinh năm 1964, địa chỉ: Xóm 12, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và ông T sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho chị.
Bị đơn anh Lê Đình L đang sinh sống và làm việc tại nước Cộng hòa Liên Bang Đức, đã được Tòa án và chị N thông báo về việc chị Hồ Thị N nộp đơn ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do đó, anh Lê Đình L đã gửi các tài liệu và bản tự khai (có xác nhận của Tổng lãnh sự quán Việt nam tại Cộng hòa Liên Bang Đức) đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trình bày: Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Hồ Thị N trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại nước Cộng hòa Liên Bang Đức. Trong quá trình chung sống, do không có con chung nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm sống, thiếu tôn trọng và quan tâm đến nhau nên tình cảm phai nhạt dần. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị Hồ Thị N làm đơn xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận.
Về con chung: Anh và chị Hồ Thị N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Hồ Thị N không tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện tại, anh đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên Bang Đức, không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với chị Hồ Thị N nên trong bản tự khai, anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án vắng mặt anh. Đồng thời anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến anh Doãn Văn Vui, sinh năm 1990, địa chỉ: Xóm Giáp Ngói, xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và anh Vui sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Vụ án Ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L đều đang cư trú tại nước Cộng hòa Liên Bang Đức, trước xuất cảnh chị Hồ Thị N có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An và anh Lê Đình L có địa chỉ cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chị N và anh L có văn bản lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để giải quyết vụ án ly hôn. Vào ngày 02/04/2019 chị N đã về Việt Nam và đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để làm thủ tục ly hôn. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và yêu cầu không hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về lời khai và các tài liệu, giấy tờ mà chị và anh đã gửi cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An vào ngày 12/03/2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc tại nước Cộng hòa liên bang Đức. Đến tháng 11 năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có con chung nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Chị N và anh L đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Hiện tại, chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Hồ Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
. Về con chung: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L không có con chung nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị N và Anh Lê Đình L không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
. Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào các Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hồ Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L được ly hôn.
2. Về con chung: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003887 ngày 09/04/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Hồ Thị N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị N và anh Lê Đình L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Văn Quỳnh |