vanban.org

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ChÞ Đoàn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn C;

Về con chung: Giao chị V trùc tiÕp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung lµ cháu NguyÔn Thanh Lâm, sinh ngµy 18/12/2016. Chị V không yêu cầu anh NguyÔn Văn C phải cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh NguyÔn Văn C cho đến khi cháu L trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đoàn Thị V xin ly hôn với anh Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? ChÞ Đoàn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn C;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 02/10/2019
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông §Æng ViÕt C«i và Ông Đỗ Huy Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hång – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2019/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị V – sinh năm 1994 (có mặt)

Nguyên quán: xã AB, huyện KX, tỉnh Thái Bình

Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã PL, huyện UH, TP. Hà Nội

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C – sinh năm 1987 (vắng mặt)

N¬i §KNKTT vµ n¬i ë: thôn H, xã PL, huyện UH, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Đoàn Thị V là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL năm 2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống cïng bè mÑ chång tại địa phương xã PL. Cuộc sống chung của hai vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ, va chạm, anh C hay lăng mạ, hành hạ chị cả về thể xác lẫn tinh thần. Nguyên nhân là do anh C thường xuyên chơi bời rượu chè kh«ng tu chÝ lµm ¨n, Chị khuyên bảo nhiều lần nhưng anh không nghe, không thay đổi. Chị cũng đã nhờ bố mẹ chồng, họ hàng, bạn bè khuyên bảo anh C nên thay đổi, tu chí làm ăn, lo toan vun vÐn gia đình nhưng anh không hề thay đổi; chị cũng cố gắng nhẫn nhịn để mong vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì tình cảm vợ chồng càng phai nhạt bấy nhiêu. Anh chị đã nhiều lần sống ly thân nhưng vì con còn nhỏ và hy vọng cả hai cố gắng thay đổi để xây dựng gia đình hạnh phúc nên lại về ở với nhau, tuy nhiên chỉ được vài ngày anh C lại đâu vào đó không chịu thay đổi. Do cuộc sống chung quá mệt mỏi nên khoảng tháng 9/2018 chị bỏ về nhà đẻ ở Thái Bình sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để ổn định cuộc sống, chị làm đơn xin ly hôn với anh C.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh L – sinh ngày 18/12/2016. Hiện nay, cháu L đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công sức và công nợ chung của vợ chồng đều không có gì nên không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã Phù Lưu đều xác định: Chị Đoàn Thị V và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL ngày 12/9/2016. Sau khi kết hôn, chị V về sống cùng anh C và gia đình anh C ở thôn H, xã PL và chuyển đăng ký hộ khẩu thường trú vào cùng hộ khẩu với anh C. Cuộc sống của chị V và anh C hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân, mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không rõ. Đến khoảng tháng 9/2018, chị V mang theo con nhỏ về nhà mẹ đẻ ở trong tỉnh Thái Bình sinh sống từ đó cho đến nay không trở về địa phương. Nay chị V làm đơn xin ly hôn với anh C, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa xem xét chấp nhận nguyên vọng của chị V để cả hai sớm ổn định cuộc sống.

Tại phiên toà, anh C vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập và niêm yết theo quy định của pháp luật. Chị V vẫn giữ nguyên ý kiÕn, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.

Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V đối với anh C. Giao con cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh C. Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng: Chị Đoàn Thị V đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Nguyễn Văn C đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét đã mở phiên toà ngày 17/9/2019 nhưng do sự vắng mặt của anh C nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng anh C vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về hôn nhân: Chị V và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, sau kết hôn anh chị chung sống được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị V bỏ về nhà đẻ ở còn anh C vẫn sống ở địa phương cùng gia đình. Sau một thời gian dài sống ly thân, không ai quan tâm đến ai thì chị V nộp đơn xin ly hôn với anh C. Xét thấy cuộc sống giữa chị V và anh C mẫu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: chị V và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh L – sinh ngày: 18/12/2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Thanh L vẫn ở với chị V. Chị V có công việc và thu nhập ổn định, hơn nữa cháu Thanh L chưa đủ 36 tháng tuổi cần phải được sự chăm sóc của người mẹ. Trong khi, anh C đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành, không có quan điểm trình bày. Xét thấy, cháu Thanh L còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần được người mẹ quan tâm, chăm sóc. Chị V không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của chị V là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công sức và công nợ: chị V xác nhận đều không có gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tr êng hîp nÕu sau này anh C có yêu cầu ®Ò nghÞ thì sẽ giải quyết t¹i vụ án khác.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị V phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Kho¶n 1 §iÒu 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. ChÞ Đoàn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn C;

2. Về con chung: Giao chị V trùc tiÕp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung lµ cháu NguyÔn Thanh Lâm, sinh ngµy 18/12/2016. Chị V không yêu cầu anh NguyÔn Văn C phải cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh NguyÔn Văn C cho đến khi cháu L trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở

3. Về án phí: Chị V ph¶i chịu 300.000® (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị V đã nộp tại Biên lai thu số 0009219 ngày 11/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

4. VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Nguyªn ®¬n cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n; Bị ®¬n vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ