vanban.org

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L. T. X. T. được ly hôn với anh N. T. H..

2/ Về con chung: Giao cho chị L. T. X. T. được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006. Anh N. T. H. có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng hàng tháng cho con mỗi cháu là 745.000 đồng, cấp dưỡng cho đến khi cháu N. P.H. và N.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L. T. X. T. được ly hôn với anh N. T. H..
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 55/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 12/11/2019
“V/v Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lương Minh Suốt.

- Ông Lâm Kim Mến.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa: ông Đoàn Văn Khải, Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2019/TLST-HNGĐ ngày 16/9/2019. Về tranh chấp hôn nhân và gia đình - Xin ly hôn, và tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà L. T. X. T., sinh năm 1984.

Địa chỉ: số 85/43, ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông N. T. H., sinh năm 1982.

Địa chỉ: số 85/43, ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

(Nguyên đơn, bị đơn điều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 03/9/2019 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn L. T. X. T. trình bày: Vào năm 2005, chị kết hôn với anh N. T. H. có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 19/5/2005. Sau khi kết hôn, hai người sống chung với nhau tại thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống, chị T. và anh Hiếu sống hạnh phúc trong thời gian đầu và có hai người con chung tên N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006. Sau này, do cuộc sống chung không hạnh phúc, không đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất hoà mâu thuẫn ngày càng nhiều làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng chị T. không thể sống chung với anh Hiếu được. Nay chị L. T. X. T. yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. T. H..

Về con chung: N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006 hiện tại sinh sống với chị Thi, chị T. yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh Hiếu phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N. T. X. T.không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Đối với bị đơn N. T. H.: Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng anh H.không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi Tòa án. Theo thủ tục tố tụng, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia nhưng anh H.vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 04/10/2018. Đồng thời anh H.có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận giao nộp công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm của tòa án. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến thời điểm tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị L. T. X. T. được ly hôn với anh N. T. H.. Giao cho chị L. T. X. T. được trực tiếp nuôi dưỡng con chung N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006, anh N. T. H. phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của nguyên đơn L. T. X. T.. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, chị T. yêu cầu ly hôn với anh H.và giải quyết nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, 56 và Điều 58 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn L. T. X. T. và bị đơn N. T. H. đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và không có ý kiến phản đối gì nên Hội đồng xét xử căn vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn L. T. X. T. và bị đơn N. T. H..

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/5/2005 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh con mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn L. T. X. T. có kết hôn với bị đơn N. T. H. là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, giữa chị L. T. X. T. và anh N. T. H. đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cự cải làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến chị T. và anh H.không còn tiếp tục sống chung với nhau.

Nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa chị T. và anh H. không có tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn L. T. X. T. và bị đơn N. T. H. thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn L. T. X. T. đối với bị đơn N. T. H. là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị L. T. X. T. được ly hôn với anh N. T. H..

Về con chung: Chị L. T. X. T. và anh N. T. H. có với nhau hai người con chung tên N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006 hiện đang sinh sống với chị Thi. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L. T. X. T. có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Xét tại thời điểm xét xử N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006 đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là chị Thi. Nguyện vọng của N. L.X.Q. (được thể hiện tại biên bản ghi lời khai ngày 04/10/2019 và lời khai đó là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bị xúi giục. N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên rất cần được sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ là chị Thi. Bên cạnh có, N. P.H. và N. L.X.Q. đang sống với chị T. trong một thời gian dài cuộc sống hằng ngày của N. P.H. và N. L.X.Q. vẫn ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần; Chị T. cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng N. P.H. và N. L.X.Q., nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để giao N. P.H. và N. L.X.Q. cho chị L. T. X. T. tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị L. T. X. T. trình bày yêu cầu anh N. T. H. cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, bị đơn N. T. H. không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có ý kiến trình bày yêu cầu nguyên đơn L. T. X. T.. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình buộc bị đơn N. T. H. có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn L. T. X. T. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn L. T. X. T. phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí cấp dưỡng: Bị đơn N. T. H. phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều điều 107, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điểm a Khoản 5 điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L. T. X. T. được ly hôn với anh N. T. H..

2/ Về con chung: Giao cho chị L. T. X. T. được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên N. P.H. (nam) sinh ngày 01/01/2018 và N. L.X.Q. (nữ) sinh ngày 24/02/2006. Anh N. T. H. có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng hàng tháng cho con mỗi cháu là 745.000 đồng, cấp dưỡng cho đến khi cháu N. P.H. và N. L.X.Q. đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nêu trên được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

Trong thời gian chị L. T. X. T. nuôi con, không ai có quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Chị L. T. X. T. và anh N. T. H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn L. T. X. T. phải chịu 300.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009111 ngày 12/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, chị L. T. X. T. đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Án phí cấp dưỡng: Bị đơn N. T. H. phải chịu 300.000 đồng.

Các khoản tiền trên các đương sự giao, nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ