- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thùy T xin ly hôn với anh Bùi Thanh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thùy T đối với anh Bùi Thanh P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Tấn Thọ
2. Ông Nguyễn Văn Chậu
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Cẩm Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy T, sinh năm 1997. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã S, huyện L, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Anh Bùi Thanh P, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/11/2018 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy T trình bày:
Chị và anh P cưới nhau vào năm 2015 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh P thích cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị T và anh P đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, chị và anh P cũng đã có nói chuyện với nhau, mỗi người ai cũng có cuộc sống riêng. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Phạm Thanh T, sinh ngày 13/7/2016. Chị T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng .
Về tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có.
Vụ kiện đã được Tòa án mở phiên hoà giải nhưng không hoà giải được do anh P không đến. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: không vi phạm tố tụng. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại. Anh Bùi Thanh P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hôn nhân: chị Phạm Thị Thùy T và Bùi Thanh P chung sống với nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh P và chị T thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nay chị T yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh P. Căn cứ vào lời trình bày của chị T; căn cứ vào biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân của anh P, chị T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân, do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị T và anh P đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Tòa án cũng đã mở phiên hòa giải động viên, tạo điều kiện để hai bên hàn gắn, đoàn tụ trở lại nhưng anh P không đến, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân của hai anh chị. Xét thấy, đời sống chung của chị T, anh P không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: tên Bùi Phạm Thanh T, sinh ngày 13/7/2016. Hiện con đang sống với chị T, chị T có yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: để đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung, cần giao con cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có nên không xét đến.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: nguyên đơn chị T phải chịu án phí là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 227, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thùy T đối với anh Bùi Thanh P.
Chị Phạm Thị Thùy T được ly hôn anh Bùi Thanh P. Quan hệ hôn nhân của chị T, anh P chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con là Bùi Phạm Thanh T, sinh ngày 13/7/2016 cho chị Phạm Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Anh P được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có, nên không xét đến.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Phạm Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0021111 ngày 16/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre được khấu trừ vào án phí, chị T đã nộp đủ án phí.
Chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh P vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THA huyện Bình Đại; - UBND xã Đ (số 29/2016); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Nguyễn Trọng Hiếu |