vanban.org

Bản án 55/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M phạm tội: “Đánh bạc”.

Nguyễn Hà T: 26.000.000đồng (Hai sáu triệu đồng). 1. Bùi Xuân S 22.000.000đồng (Hai hai triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; luật hình sự bảo vệ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2018/HSST
Ngày: 28/05/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Lợi.

Bà Nguyễn Thị Tươi.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2018/TL- HSST, ngày 17 tháng 04 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hà T, sinh năm 1981, tại thành phố B, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà N, ngõ M, phố Phúc Ch, phường Th, thành phố B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe Công ty Vinaconex 9; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Ph và bà Nguyễn Thị N; vợ Phạm Thị H; có một con S năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; lịch sử bản thân: Ngày 26.06.2001, bị Công an thành phố Ninh Bình phạt tiền về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính), ngày 27.01.2005 bị Tòa án quân sự quân khu 3 xử phạt 26 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24.01.2018 đến ngày 26.01.2018, được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Vũ Cảnh H, sinh năm 1973, tại huyện S, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Số nhà E, ngõ F, phố X, phường B, thành phố B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Kỹ sư Công ty Vinaconex 9; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Duy Đ và bà Trần Thị M; vợ Bùi Thị Nam Ph; có hai con, con lớn S năm 2006, con nhỏ S năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24.01.2018 đến ngày 26.01.2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Bùi Xuân S, sinh năm 1970, tại huyện L, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Tr, xã Gi, huyện L, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Kế toán Công ty Vinaconex 9; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi K và bà Đinh Thị Nh; vợ Vũ Thị Tr; có ba con, con lớn S năm 1999, con nhỏ S năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24.01.2018 đến ngày 26.01.2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1958, tại huyện Kh, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Kh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân Công ty Vinaconex 9; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Phạm Thị Th; vợ Cao Thị Nh; có hai con, con lớn S năm 1987, con nhỏ S năm 1990; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24.01.2018 đến ngày 26.01.2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

5. Bùi Văn M, sinh năm 1983, tại huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã Gi, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Công nhân Công ty Vinaconex 9; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Đỗ Thị M; vợ Nguyễn Thị Th; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24.01.2018 đến ngày 26.01.2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người làm chứng: Anh Trần Văn H, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Trú tại: Ngõ C, đường Ô, phố Ch, phường Th, thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M hiện làm việc tại Công ty Cổ phần Vinaconex 9, chi nhánh tỉnh Ninh Bình, trụ sở đóng tại phố Phúc trì, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 01 năm 2018, sau khi hết giờ làm việc T, T1, S, H về phòng nghỉ của Công ty Vinaconex 9 để nghỉ trưa. Khi vào phòng thấy có hai bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân cùng 02 chiếc đĩa sứ, T rủ T1, H, S đánh bạc dưới hình thức đánh chắn được thua bằng tiền cả hội đồng ý. T, T1, H, S thống nhất hình thức chơi sử dụng bộ bài chắn 100 quân chia cho mỗi người 19 quân bài còn lại 23 quân để dưới đĩa gọi là nọc. Ván đầu tiên một người sẽ bốc 01 quân dưới nọc để xem người nào đánh trước. Ván thứ hai thì người nào thắng ván trước sẽ được bốc cái xem người nào đánh trước. Thứ tự đánh từ trái qua phải. Người nào ù thì những người còn lại phải trả cho người ù số tiền tương ứng với ván ù đó. Cụ thể ù xuông 20.000đồng; ù chì, ù thông 30.000đồng; ù tôm 40.000đồng; ù lèo 50.000đồng; ù bạch định 70.000đồng; ù tám đỏ 80.000đồng, ù bạch định tôm 80.000đồng và 50.000đồng tiền gà tổng là 150.000đồng. Khi bốn người vừa bắt đầu chơi thì Bùi Văn M đi vào phòng thấy T, T1, S, H đánh chắn ăn tiền nên nói “Các anh để em chia bài cho”, cả bốn người đồng ý và thống nhất mỗi ván nếu ai ù có gà thì sẽ trả cho M tiền công chia bài 20.000đồng. Trước khi đánh bạc, T có 4.820.000đồng, T lấy ra 810.000đồng để đánh bạc, còn 2.010.000đồng T để tại túi áo ngực bên trái và 2.000.000đồng để trong ví túi quần bên phải không sử dụng đánh bạc; H có 4.900.000đồng sử dụng vào việc đánh bạc; T1 có 1.350.000đồng sử dụng vào việc đánh bạc; S có 15.560.000đồng lấy ra 560.000đồng để đánh bạc, còn lại 15.000.000đồng cất trong ví nếu thua hết 560.000đồng, S lấy ra tiếp 1.000.000đồng trong ví ra đánh bạc còn lại 14.000.000đồng S không sử dụng đánh bạc. Đến 12 giờ 30 ngày 24.01.2018, khi cả hội đang sát phạt nhau thì bị Công an thành phố Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 02 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân; thu tại vị trí ngồi của Nguyễn Hồng T1 1.640.000đồng, một điện thoại Viẹt Ten V621B; Nguyễn Hà T 4.020.000đồng gồm 10 nghìn đồng trước mặt, 2.010.000đồng tại túi áo ngực bên trái, 2.000.000đồng để trong túi quần bên phải, một điện thoại Iphone 5s màu đen; Bùi Xuân S 15.060.000đồng gồm trước mặt 60.000đồng, trong ví 15.000.000đồng, một điện thoại NOKIA X6 màu đen; Vũ Cảnh H 5.830.000đồng gồm 2.330.000đồng tại vị trí ngồi và 3.500.000đồng để trong ví trước mặt, một điện thoại Iphone 6 plus; Bùi Văn M tại vị trí ngồi 80.000đồng; thu dưới nền đất cạnh vị trí M ngồi một ví da bên trong có 700.000đồng, một điện thoại Nokia. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trong người T, H, T1, S là 27.330.000đồng trong đó số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 8.620.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT- VKS, ngày 15.04.2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Hà T từ 26.000.000đồng đến 30.000.000đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

Vũ Cảnh H từ 24.000.000đồng đến 26.000.000đồng.

Bùi Xuân S từ 22.000.000đồng đến 24.000.000đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

Nguyễn Hồng T1 từ 22.000.000đồng đến 24.000.000đồng.

Bùi Văn M từ 20.000.000đồng đến 22.000.000đồng.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu số tiền các bị cáo phạm tội mà có 8.620.000đồng trong đó thu giữ của Nguyễn Hồng T1 1.640.000đồng; Nguyễn Hà T 10.000đồng; Bùi Xuân S 1.060.000đồng; Vũ Cảnh H 5.830.000đồng; Bùi Văn M 80.000đồng

Tịch thu tiêu hủy 02 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân.

Số tiền thu giữ của các bị cáo Nguyễn Hà T 4.010.000đồng, Bùi Xuân S 14.000.000đồng, Bùi Văn M 700.000đồng xác định các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên đã trả lại cho các bị cáo.

Các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc như bản cáo trạng, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M thừa nhận: “Khoảng 12 giờ 30 ngày 24.01.2018 tại phòng nghỉ của Công ty Cổ phần Vinaconex 9, chi nhánh tỉnh Ninh Bình- phố Phúc trì, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình các bị cáo đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi chắn được thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 8.620.000đồng. Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự thì người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng… thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm tội“Đánh bạc”.

Để cá thể hóa loại, mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, việc khởi tố, truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra truy tố xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo H, S, T1, M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Xuân S có bố là người được tặng thưởng thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ, bị cáo Nguyễn Hà T có mẹ được tặng huân chương kháng chiến chống mỹ, bị cáo Vũ Cảnh H có bố, mẹ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng loại và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và cần phải xử phạt các bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Đối với bị cáo Nguyễn Hà T là người có nhân thân xấu, khởi xướng và trực tiếp tham gia đánh bạc nên tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bi cáo cao hơn các bị cáo khác, sau đó đến các bị cáo H, S, T1 là người trực tiếp đánh bạc, sau cùng là bị cáo M là đồng phạm giúp sức. Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, mục đích tư lợi nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là đủ điều kiện răn đe giáo dục các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội là 8.620.000đồng, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 02 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Quá trình điều tra cơ quan công an đã trả cho Nguyễn Hồng T1 01 điện thoại vietten V621B, trả cho Nguyễn Hà T 01 điện thoại iphone 5s màu đen và số tiền 4.010.000đồng, trả cho Bùi Xuân S 01 điện thoại Nokia X6 màu đen và số tiền 14.000.000đồng, trả cho Vũ Cảnh H 01 điện thoại iphone 6 plus, trả cho Bùi Văn M một ví giả da và số tiền 700.000đồng là có căn cứ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

Nguyễn Hà T: 26.000.000đồng (Hai sáu triệu đồng).

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

3.1. Bùi Xuân S 22.000.000đồng (Hai hai triệu đồng).

3.2. Vũ Cảnh H 22.000.000đồng (Hai hai triệu đồng).

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

3.3. Nguyễn Hồng T1 23.000.000đồng (Hai ba triệu đồng).

3.4 Bùi Văn M 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

4. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo phạm tội mà có 8.620.000đồng, theo giấy ủy nhiệm chi ngày 16 tháng 04 năm 2018, giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

- Tịch thu tiêu hủy 02 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 04 năm 2018, giữa Công an thành Phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Hà T, Vũ Cảnh H, Bùi Xuân S, Nguyễn Hồng T1, Bùi Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng.

Án xử sở thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ