- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Minh Th 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HS-ST Ngày 12 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Hoài Hiêm
2. Ông Hồ Văn Khang
Thư ký phiên tòa: ông Trần Hữu Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Th, sinh năm 1998, tại Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp L, xã LH, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con Nguyễn Văn B(đã chết) và Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1976; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có.
- Bị cáo tại ngoại – có mặt.
- Đại diện hợp pháp cho bị hại Phạm Công V:
1/ Ông Phạm Công A; sinh năm: 1955
2/ Bà Lưu Thị T; sinh năm: 1957
Cùng địa chỉ: ấp Th, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đã ủy quyền cho chị Trần Thị H; sinh năm: 1980
Địa chỉ: ấp H, xã AH, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 5 năm 2018)
Chị Trần Thị H - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/5/2018, Nguyễn Minh Th không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe môtô biển số 62T1-2524 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 787B hướng từ xã Lộc Hưng đến xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực ấp Lộc Tân, xã Lộc Hưng, Th điều khiển xe qua phần đường bên trái hướng đi thì đụng vào xe môtô biển số 70H3-9344 do anh Trương Văn Q điều khiển chở theo anh Phạm Công V ngồi phía sau lưu thông theo hướng ngược lại làm anh Q và anh V té ngã xuống đường; anh V bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bàng thì bị tử vong, còn anh Q chỉ bị thương tích nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 93/2018/TT ngày 20/6/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tây Ninh, kết luận: Anh Phạm Công V bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong do tai nạn giao thông.
Qua làm việc, chị Trần Thị H (là người được gia đình anh V ủy quyền) yêu cầu Nguyễn Minh Th bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 64.223.000 đồng; hiện Th chưa bồi thường.
Đối với anh Trương Văn Q bị thương tích nhẹ và từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự của Nguyễn Minh Th liên quan đến anh Q.
Tại bản Cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về các biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Minh Th có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 64.223.000 đồng; xe mô tô biển số 62 T1-2524 là của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo Th chưa bồi thường cho bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho cơ quan Thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/5/2018, bị cáo Nguyễn Minh Th là người không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe môtô biển số 62T1-2524 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 787B hướng từ xã Lộc Hưng đến xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực ấp Lộc Tân, xã Lộc Hưng thì bị cáo Th điều khiển xe qua phần đường bên trái hướng đi thì đụng vào xe môtô biển số 70H3-9344 do anh Trương Văn Q điều khiển chở theo anh Phạm Công V ngồi phía sau lưu thông theo hướng ngược lại làm anh Q và anh V té ngã xuống đường dẫn đến anh V tử vong tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bàng, còn anh Q chỉ bị thương tích nhẹ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Th đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự cũng như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng của người khác, vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ và trật tự công cộng. Nhất là tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn huyện Trảng Bàng xảy ra ngày càng gia tăng, nguyên nhân chủ yếu là do các đối tượng đã uống rượu, bia rồi điều khiển phương tiện lưu thông trên đường, vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn, để lại nỗi thương tâm cho gia đình và người thân của nạn nhân. Cụ thể bản thân bị cáo không có giấy phép lái xe, quá trình lưu thông không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông và lấn trái gây ra tai nạn, hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ Việt Nam, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát và mức đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Nên khi quyết định hình phạt, cần lên cho bị cáo một mức án tương xứng với mức độ vi phạm của bị cáo, mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt các quy định của địa phương.
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài hình phạt chính, xét thấy bị cáo đang làm nghề nghiệp tự do, không ổn định, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp:
- Bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị H là người đại diện theo sự ủy quyền của đại điện hợp pháp cho bị hại, chỉ yêu cầu bị cáo Th bồi thường lại cho gia đình bị hại chi phí mai táng, chôn cất cho bị hại Phạm Công V với số tiền tổng cộng là 64.223.000 đồng; ngoài ra không yêu cầu gì thêm, bị cáo Th đồng ý bồi thương theo yêu cầu của chị H, nên ghi nhận.
-Về xử lý vật chứng: Xe môtô Draem, nhãn hiệu ACUMEN, biển số 62T1-2524 là của bị cáo, cần tuyên trả cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo Th chưa bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, cần giao Cơ quan thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành.
2. Biện pháp tư pháp:
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 586, 601 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh Th có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 64.223.000 (sáu mươi bốn triệu hai trăm hai mươi ba nghìn) đồng.
- Vật chứng: Trả cho bị cáo Nguyễn Minh Th xe môtô Draem, nhãn hiệu ACUMEN, biển số 62T1-2524, số khung RRKDCG1TT7XA-01145, số máy VTT17JL1P50FMG-001145, dung tích xi lanh 97cm3, nhưng giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.
Kể từ ngày đại diện hợp pháp của bị hại (Phạm Công V) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Minh Th không chịu bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho gia đình bị hại nêu trên số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Bị Nguyễn Minh Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 3.211.000 (ba triệu hai trăm mười một nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Tây Ninh; -VKSND huyện Trảng Bàng; - CQCSĐT CA huyện Trảng Bàng; -Phòng PV 27 CA Tây Ninh; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -Chi cục THADS huyện Trảng Bàng; -Nhà tạm giữ; -Cơ quan thi hành án hình sự; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diệp |