- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh Th, Phạm Ngọc T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Minh Th 08(Tám)năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2017, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 55 /2018/HSST Ngày: 10/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm: 1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Đinh Quang Huấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội: Bà Đặng Thị Sơn Cầm– Kiểm sát viên.
Ngµy 10 th¸ng 05 n¨m 2018 t¹i trô së Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Thanh Tr× thành phố Hµ Néi, xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 47 /2018/HSST ngµy 06/4/2018 ®èi víi các bị cáo:
1.Hoàng Minh Th, sinh năm 1977; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: xóm C, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5 /12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Minh Q1 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Q2; Vợ: Vũ Thị H (đã chết); Có 01 con, sinh năm 2004; Tiền án: 01 tiền án: Bản án số 292/2013/HSST ngày 23/08/2013, của tòa án nhân dân quận M xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: 01 tiền sự đã hết thời hiệu. Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2017 - Có mặt tại phiên tòa.
2.Phạm Ngọc T, sinh năm 1978; ĐKHKTT: Xóm T, xã T, thành phố N, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: Lang thang không nơi cư trú nhất định; con ông: Phạm Bích L, con bà: Tạ Thị H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Tiền án: 03 tiền án: Bán án số 91/2008/HSST ngày 14/8/2008, của tòa án nhân dân tỉnh N xử phạt 06 năm tù về tội Cướp tài sản; Bản án số 550/2014/HSST ngày 21/10/2014, của tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;Bản án số 332/2015/HSST ngày 26/11/2015, của tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản “Giá trị tài sản 240.000đồng”;Tiền sự: không;bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2017 - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án,diễn biến tại phiên tòa vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ ngày 19/12/2017, Hoàng Minh Th mang theo 02 gói ma túy và đi bộ từ trong sân ra đến cổng Bệnh viện 09 - Yên Xá, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội thì gặp Phạm Ngọc T vừa đi xe máy đến, T hỏi mua của Th 02 gói ma túy. Khi Th vừa đưa cho T 02 gói ma túy và nhận lại của T 180.000 đồng thì bị Tổ công tác Đồn Công an Cầu Bươu - Công an huyện Thanh Trì đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường Cầu Bươu, Yên Xá, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội phát hiện bắt quả tang, thu giữ của T 02 (hai) gói giấy chứa chất bột màu trắng; thu giữ của Th 180.000 đồng; Ngoài ra, Cơ quan công an còn tạm giữ của T 01 xe máy Wave anpha màu hồng BKS: 29C1-213629.
Tại bản Kết luận giám định số 85/KLGĐ-PC54 ngày 08/01/2018, Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy đều là ma túy loại Heroine, tổng trọng lượng 0,181 gam;
Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,022 gam trong tổng số 0,181 gam Heroine để giám định; hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì 0,159 gam Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Minh Th khai nhận: Trước khi bị bắt, Th đã bán ma túy được 04 ngày. Ngoài bán ma túy cho T, Th còn bán ma túy cho nhiều người khác nữa nhưng Th không biết tên tuổi, địa chỉ của những người mua ma túy. Th mua 50.000đồng/01 gói, bán 100.000đồng/01 gói, thu lời 50.000 đồng/gói; tổng số tiền Th thu lời được khoảng 400.000 đồng đến 500.000 đồng. Nguồn gốc của số ma túy mà Th bán là do Th mua của một người đàn ông tên là C khoảng 45 tuổi ở khu vực Bệnh viện 09 - Yên Xá, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội.
Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Th, Th chỉ biết tên C nhưng không biết địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ.
Đối với số tiền 180.000 đồng là tiền của T dùng để mua ma túy cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe máy Wave anpha màu hồng BKS: 29C1-213629 tạm giữ của T, qua điều tra xác minh xác định chiếc xe trên là vật chứng của một vụ án khác nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách phần hồ sơ liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra và xử lý sau.
B¶n c¸o tr¹ngsè 43/CT- VKS ngµy 30/3/2018,của Viện kiểm sát nhân dân huyÖn Thanh Tr× truy tè Hoàng Minh Th vÒ téi "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b kho¶n 2 §iÒu 251 Bộ luật hình sự; truy tố Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
T¹i phiªn toµ:Các bị cáo thừa nhận hành vi mua b¸n, tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tóy lµ vi phạm pháp luật, nay các bÞ c¸o nhËn thøc hµnh vi m×nh thùc hiÖn lµ sai tr¸i, ¨n n¨n hèi lçi, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa, tái hòa nhận cộng đồng làm người có ích cho gia đình và cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: Hồi 08 giờ ngày 19/12/2017, Hoàng Minh Th đã bán ma túy cho Phạm Ngọc T, ngoài ra Th còn nhiều lần bán ma túy cho các con nghiện khác để kiếm lời. Do vậy, hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình năm 2015. Xử phạt bị cáo Th mức án từ 7 năm đến 08 năm tù.
Đối với bị cáo Phạm Ngọc T có hành vi tàng chữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng đối với bị cáo Th về tội ”Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 20 đến 26 tháng tù;
Vật chứng: Tịch thu sung công 180.000đồng là tiền tang vật vụ án; buộc Th phải truy nộp 400.000đồng tiền thu lời bất chính; tịch thu tiêu hủy 0,159 gam Heroin; mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; không phạt bổ sung đối với các bị cáo, vì các bị cáo là con nghiện không có việc làm ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Thanh trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đến thời điểm mở phiên tòa, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau [1]:
Hồi 08 giờ ngày 19/12/2017, tại cổng Bệnh viện 09 - Yên Xá, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội bị cáo Th đang có hành vi bán trái phép 0,181gam Heroinecho bị cáo T, bị Công an đồng Cầu Bươu bắt quả tang. Ngoải lần bán này bị cáo Th còn nhiều lần bán cho bị cáo T và các con nghiện khác để kiếm lời. Hành vi nhiều lần bán trái phép chất ma túy của bị cáo là có đủ dấu hiệu cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với Phạm Ngọc T đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, Bản án số 332/2015/HSST ngày 26/11/2015, của tòa án nhân dân thành phố T xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản lần phạm tội này là 240.000 đồng. Theo quy định trong luật hình sự thì các lần phạm tội trước là yếu tố định tội cho bản án số 332/2015/HSST. Do vậy,Viện kiểm sát truy tố, Hội đồng xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở. Khi xem xét đến lượng hình, Hội đồng xét xử đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, thấy: [2]:
Tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Vì, ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình;đồng thời ma túy còn là mần mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Do vậy, nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên mọi thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Vì lợi ích cá nhân mà bị cáo Th đã ngang nhiên đi mua ma túy về bán để kiếm lời. Bị cáo T đã tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dung. Các bị cáo đã bất chấp tác hại của ma túy đối với con người và xã hội. Trong khi, bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là bất hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng; đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước được luật hình sự bảo vệ [3].
Nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Các bị cáo đều có tiền án chưa được xóa,lần phạm tội này các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo Th đã tự khai nhận hành vi phạm tội trước đó của mình mà chưa bị các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án. Đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Bị cáo Th áp dụng thêm điểm r) theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo [4].
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Th không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được người này nên Cơ quan điều tra – Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Vật chứng: Chiếc xe máy Wave anpha màu hồng BKS: 29C1-213629 qua điều tra xác minh xác định là vật chứng của một vụ án khác nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách phần hồ sơ liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra và xử lý sau.
Tịch thu sung công 180.000đồng là tiền phạm tội. Truy thu 400.000 đồng tiền thu lời bất chính từ việc phạm tội mà có đối với bị cáo Hoàng Minh Th.Tịch thu tiêu hủy 0,159 gamheroin[5].
Xét bị các cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm [6].
Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Hoàng Minh Th 08(Tám)năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2017, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“
Xử phạt: Phạm Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù,thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2017, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3.Áp dụng Điều 47Bộ luật hình sự; Điều 106,khoản 2Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Vật chứng: Tịch thu sung công 180.000đồng. Buộc bị cáo Hoàng Minh Th phải bị truy nộp 400.000 đồng tiền thu lời bất chính từ việc phạm tội mà có. Tịch thu tiêu hủy 0,159 gam heroin
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Trì; - Trại tạm giam CATPHN; - Chị cục THA huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | §ç V¨n Nghiªm |