- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HS-ST Ngày: 21/11/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông H Ngọc Trứ
2. Ông Đặng Thế Ứng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 51/2018/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Lê Thị Cẩm N, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1991, tại Tiền Giang. Chứng minh nhân dân số: 312081XXX; Nơi cư trú: ấp 11, xã N, huyện M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hoàng V và bà Nguyễn Thị Út C; Chồng: Nguyễn Minh T(đã ly hôn 2015); Con: Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 24/6/2009, Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2018 đến ngày 17/8/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/. Lê Chí B, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khu phố A, Phường X, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
2/. Nguyễn Thanh P, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp Q, xã I, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
3/. Võ N Q, sinh năm 2000. Nơi cư trú: ấp H, xã J, huyện M, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
4/. Lê Thị Thu H, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Khu phố A, Phường X, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:
Lê Thị Cẩm N là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp từ khoảng giữa đầu tháng 5 năm 2018. Ngày 12/8/2018, Lê Thị Cẩm N đi xe khách từ thị xã Cai Lậy đến quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (không xác định địa chỉ) để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi N nhờ một thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) mua dùm 11 bịch ma túy hàn kín, để trong 01 bịch nylon và 01 cái nỏ dùng để sử dụng ma túy, giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), N giấu vào túi quần Jean đang mặc rồi đi xe khách về nhà của Lê Chí B (B là bạn trai của N) tại khu phố A, Phường X, Thị xã C để ở. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N lấy một bịch ma túy bỏ một ít vào dụng cụ để sử dụng, phần còn lại N hàn kín rồi cất giấu, lúc này B thấy N sử dụng ma túy nên cùng sử dụng ma túy với N, 11 bịch ma túy N mua về cất giấu B hoàn toàn không biết.
Khoảng 16 giờ ngày 13/8/2018, N điện thoại rủ Nguyễn Thanh P và Võ Như Q đến quán sân vườn H3D tại khu phố A, Phường X, Thị xã C do bà Lê Thị Thu H quản lý, để uống nước, P và Q đồng ý nên N lấy ma túy giấu trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô biển số 59G1-317.51 của N đến chòi số 01 quán giải khát sân vườn H3D để chờ P và Q đến uống nước. Đến nơi chưa thấy P và Q đến nên N lấy phần ma túy sử dụng ngày 12/8/2018 còn đổ vào nỏ sử dụng thì P đến thấy N đang sử dụng ma túy nên P vào cùng sử dụng ma túy với N, lúc này Q đến quán thấy N và P đang sử dụng ma túy nên cùng vào sử dụng ma túy chung với N và P. Đến 18 giờ 15 phút cùng ngày Công an thị xã Cai Lậy kiểm tra hành chính bắt quả tang N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, cùng vật chứng vụ án thu giữ, gồm:
- 01 (một) bịch nylon màu trắng hình chữ nhật có kích thước 10cm x 7,2cm được dán kín, bên trong chứa 10 (mười) bịch nylon được hàn kín đều chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy. Được niêm phong có chữ ký xác nhận của Lê Thị Cẩm N;
- 01 (một) chai nhựa, trên nắp có 02 lỗ, 01 lỗ được gắn 01 nỏ bằng thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;
- 01 (một) bật lửa màu vàng, đen đỏ;
- 01 (một) bật lửa màu trắng bị mất phần đầu;
- 01 (một) kéo bằng kim loại;
- 01 (một) đoạn kim loại dài 4,4cm;
- 02 (hai) điện thoại di động (01 nhãn hiệu OPPO màu vàng, 01 nhãn hiệu IPHONE 5SE màu hồng);
- 01 (một) xe mô tô biển số 59G1- 31751, nhãn hiệu ATTILA, màu đỏ;
- Tiền Việt Nam 1.720.000 đồng (một triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Kết luận giám định số 147/KLGĐ-PC54 ngày 15/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: mẫu tinh thể trong suốt trong 10 gói nylon màu trắng gửi đến giám định là Methamphetamie có tổng khối lượng 2,9298 gam (hai phẩy chín hai chín tám).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Cẩm N: 01 (một) xe mô tô biển số 59G1- 31751, nhãn hiệu ATTILA, màu đỏ; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) điện thoại di động (01 nhãn hiệu OPPO màu vàng, 01 nhãn hiệu IPHONE 5SE màu hồng).
Cáo trạng số 52 ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Lê Thị Cẩm N tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của BLTTHS.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Vật chứng tuyên tịch thu tiêu hủy. Riêng số tiền trả lại cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Bị cáo lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị Cẩm N đã nhận tội và khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng N nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo N đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể ngày 12/8/2018, Lê Thị Cẩm N đến quận 8, thành phố Hồ Chí Minh mua 11 bịch ma túy và 01 cái nỏ dùng để sử dụng ma túy. Đến khoảng 18 giờ 15 phút ngày 13/8/2018 Công an thị xã Cai Lậy bắt quả tang N đang tàng trữ ma túy tại quán sân vườn H3D thuộc khu phó 1, phường 1 thị xã Cai Lậy. Căn cứ vào Kết luận giám định số 147/KLGĐ-PC54 ngày 15/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Số ma túy thu giữ trên người của N là mẫu tinh thể trong suốt trong 10 gói nylon màu trắng qua giám định là Methamphetamie có tổng khối lượng 2,9298 gam. Do đó Lê Thị Cẩm N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bởi lẽ, ma túy là một vấn nạn hết sức nhức nhối, gây ra tác hại nhiều mặt cho toàn xã hội, đây là nguồn gốc phát sinh ra rất nhiều loại tội phạm cũng N các căn bệnh nguy hiểm khác, làm cho nhiều gia đình phải lâm vào cảnh đổ vỡ, ly tán bần cùng đồng thời còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai, nòi giống. Bản thân bị cáo là con nghiện để thỏa mãn nhu cầu bị cáo đã đến Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về sử dụng, sau đó tàng trữ. Xét về ý thức bị cáo vẫn biết được việc tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật Nng vẫn bất chấp cố tình thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bản thân là giới nữ khi phạm tội đang mang thai, quá trình điều tra, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi do bị cáo N thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải được xử lý thỏa đáng và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử có xem xét chiếu cố trong việc lượng hình.
Về vật chứng:
Đối với các vật chứng hiện đang tạm giữ, xét thấy đây là hàng cấm và là công cụ để bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy nghĩ nên tịch thu tiêu hủy. Riêng số tiền là tài sản cá nhân không liên quan đến việc tàng trữ ma túy nghĩ nên tuyên trả lại cho bị cáo.
Đáng lý ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên do bị cáo chỉ là người nghiện ma túy việc bị cáo tàng trữ chỉ nhầm mục đích để sử dụng nên không có thu lợi. Do đó nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
1/ Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Cẩm N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/8/2018 đến ngày 17/8/2018.
2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- Một bì thư niêm P mẫu vật hoàn trả số 147 ngày 15/8/2018 có dấu tròn màu đỏ ghi Công an Tiền Giang, chữ ký bên giao giám định viên Nguyễn Thanh Tường, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều Linh, chữ ký bên nhận Đặng Nhựt Khuynh.
- 01 (một) chai nhựa, trên nắp có 02 lỗ, 01 lỗ được gắn 01 nỏ bằng thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;
- 01 (một) bật lửa màu vàng, đen đỏ;
- 01 (một) bật lửa màu trắng bị mất phần đầu;
- 01 (một) đoạn kim loại dài 4,4cm.
+ Tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 1.720.000 đồng (một triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy).
3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Lê Thị Cẩm N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy; - CAND Thị xã Cai Lậy; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa MAI VĂN HÙNG CƯỜNG |