- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Ngô Văn C 18 tháng (Mười tám) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HS-ST Ngày 15 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Độ
Bà Phạm Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Ngô Văn C - Sinh năm: 1983 tại tỉnh Nam Định.
Nơi đăng ký HKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Nguyên H; Conbà: Đặng Thị T; Có vợ là: Vũ Thị N; Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.
Nhân thân: Ngày 04/6/2013 Chủ tịch UBND huyện N ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 12 tháng.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2018 đến ngày 08/10/2018 và bị tạm giam từ ngày 08/10/2018 đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/10/2018 Ngô Văn C đi xe mô tô BKS 18P4
- 0576 từ nhà tới khu vực bến đò Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định để mua ma túy sử dụng. Tới nơi, C thấy một người phụ nữ khoảng ngoài 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ đang đi lại tại đó, nghĩ rằng người này có bán ma túy C lại gần lấy trong người ra 200.000đ cầm ở tay và nói: “Bán cho một quả”. Hiểu ý C hỏi mua một gói Heroin với giá 200.000đ, người phụ nữ đồng ý bán, nhận tiền rồi đưa lại cho C 01 gói Heroin gói bằng giấy bạc màu vàng. C nhận gói Heroin cất ở túi quần rồi điều khiển xe mô tô quay về tìm nơi sử dụng, khi về đến khu vực ngã 5, thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định thì bị lực lượng Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang hồi 11giờ 20 phút cùng ngày.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ C đã tự giác lấy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc giao nộp 01 gói giấy bạc màu vàng trong có chứa chất bột dạng cụ màu trắng (C khai đó là gói Heroin vừa mua cất giấu để sử dụng) được cho vào bị thư niêm phong ký hiệu M;
+ 01 xe mô tô biển số 18P4 - 0576 nhãn hiệu FUSKI, số máy MH-20003513, số khung H-003513 là phương tiện C sử dụng đi mua Heroin.
Bản giám định số: 865/GĐKTHS ngày 03/8/2018 của phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng mà C tàng trữ được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin. Khối lượng mẫu M: 0,276 gam .
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 55/CT-VKS-KSĐT ngày 24 tháng 10 năm 2018 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Ngô Văn C từ 18 - 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định.
Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ.
Bị cáo thừa nhận vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ của bị cáo là Heroin, bị cáo vừa mua, nhằm mục đích sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.
Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroin) vào ngày 05 tháng 10 năm 2018 của bị cáo Ngô Văn C đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS.
Ma tuý là một trong nguyên nhân phát sinh tình hình tội phạm, trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của bản thân, của gia đình bị cáo và của toàn xã hội, là tệ nạn đã và đang bị toàn xã hội lên án mạnh mẽ. Chính vì thế Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật đã nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
Do vậy việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản Cáo trạng số 55/QĐ - KSĐT ngày 24 tháng 10 năm 2018, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tương đối nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cấn nhắc tới tình tiết: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật XHCN, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án là Heroin là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô BS: 18P4 - 0576 mà Ngô Văn C sử dụng đi mua Heroin quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng C, chị Vũ Thị N (là vợ C) không biết việc C dùng xe để đi mua ma túy CQĐT Công an huyện đã trả lại cho chị Vũ Thị N.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của CQCSĐT là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
[7] Đối với người phụ nữ không quen biết mà C khai đã bán ma túy tại khu vực bến đò Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, do chưa xác định được cụ thể CSĐT Công an huyện Trực Ninh tiếp tục xác minh xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Ngô Văn C 18 tháng (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 10 năm 2018.
2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin thu của bị cáo Ngô Văn C đựng trong 01 bì thư số 865/GĐKTHS của Công an tỉnh Nam Định. (Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 05 tháng 11 năm 2018).
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Văn C phải nộp 200.000 đồng.
Bị cáo Ngô Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - - VKSND tỉnh Nam Định + huyện Trực Ninh; - C an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã N, huyện N; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu: VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thái Hà |