vanban.org

Bản án 55/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Lương Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Áp dụng khoản 3 Điều 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lương Văn L - Bị truy tố tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2018/HS-ST
Ngày 19 - 9 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Ó và ông Lê Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Hòa – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Lương Văn L, sinh ngày 12/4/1984 tại Thủ S - Tiên L - Hưng Yên. Nơi cư trú: bản Tiên L, xã Tân L, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái đoàn thể, tôn giáo: không; con ông Lương Văn Đ và bà Đào Thị M; có vợ là Phan Thị H và 02 con; không tiền án, tiền sự; về nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên L xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; Ngày 31/5/ 2017 bị Công an huyện Phù Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (bị cáo đều đã chấp hành xong); Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 05/6/2018 Lương Văn L mang sổ và bút ra trước cửa hàng tạp hóa của gia đình để bán số lô, số đề cho khách qua đường được 680.000đ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, có hai người là Phan Anh T và Phan Thanh T (đều ở xã Tân Ph, huyện Tân S, tỉnh Phú Thọ) đến quán của L uống nước. Một lúc sau có Trần Văn  (ở bản D, xã Tân L, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) đến mua số đề với L hết 19.000đ (Mười chín nghìn đồng),  trả cho L 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng). Sau đó Hoàng Văn L (ở bản D, xã Tân L, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) đến hỏi mua số đề với L hết 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Thấy  và L mua số đề xong, Phan Anh T mua số lô với L hết 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), còn Phan Thanh T mua số lô với L hết 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). L ghi các số đã bán vào cáp đề rồi đưa cho khách và ghi lại vào sổ để so sánh kết quả trúng thưởng. Sau khi L nhận đủ số tiền mà Â, L, T, T đã bỏ ra mua số đề, số lô của mình thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng vụ án.

Ngoài ra, bị cáo Lương Văn L đã mua bán số lô, số đề với Nguyễn Quốc T (ở bản Tiên L, xã Tân L, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) qua Zalo với số tiền là 2.965.000đ (Hai triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), T thừa nhận toàn bộ hành vi mua số lô, số đề với L.

Đối với nick Zalo “chú nghĩa”, có tên là Lê Văn Ng, trú tại bản Sông M, xã Tân L, huyện Phù Yên có thể hiện mua số lô, số đề với Lương Văn L.

Toàn bộ số tiền ghi số lô, số đề bị cáo bán được đều chuyển cho một đối tượng tên T ở thành phố Sơn La (bị cáo không biết họ, địa chỉ cụ thể).

Do có hành vi trên, tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-PY ngày 23/08/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lương Văn L về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Văn L từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội đánh bạc.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong gồm 01 quyển sổ giáo án cắt một nửa, 01 bút bi, 03 cáp đề.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.465.000đ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng.

Về án phí: bị cáo Lương Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 05/6/2018, bị cáo Lương Văn L đã có hành vi mua bán số đề, số lô đối với Trần Văn Â, Hoàng Văn L, Phan Anh T, Phan Thanh T, Nguyễn Quốc T và một số đối tượng không quen biết. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập hồi 16 giờ 45 phút ngày 05/06/2018 tại bản Tiên L, xã Tân L, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 quyển sổ giáo án cắt một nửa, 01 bút bi, 03 cáp đề, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng và số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại kết luận giám định số 274 và số 312 ngày 20/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là tiền thật.

Tại kết luận giám định số: 3672/C54-P6 ngày 25/7/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an xác định trong điện thoại di động Iphone 6 của L có 02 nội dung liên quan đến mua bán số lô, số đề.

Lời khai nhận tội của bị cáo.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Văn L đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 9.465.000đ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) đã vi phạm khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự, quy định mức hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; Ngày 31/5/ 2017 bị Công an huyện Phù Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo gây ra để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ phần nào hình phạt đối với bị cáo.

Đối với các đối tượng Phan Anh T, Phan Thanh T, Trần Văn Â, Hoàng Văn L và Nguyễn Quốc T. Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên T ở Thành phố Sơn La. Qua quá trình điều tra, bị cáo khai T là người nhận bảng đề chuyển qua Zalo trên điện thoại và thỏa thuận thanh toán cho nhau qua đường xe khách Phù Yên - Sơn La. Ngoài lời khai của L, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Lê Văn Ngh, cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng Ngh không thừa nhận mua số lô, số đề với L. Nên không có căn cứ điều tra, làm rõ.

Về hình phạt bổ sung – Phạt tiền: Tại phiên tòa và biên bản xác minh tài sản đối với bị cáo ngày 06/7/2018, bị cáo có khả năng thi hành hình phạt tiền nên cần áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, có xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 quyển sổ giáo án cắt một nửa, 01 bút bi, 03 cáp đề, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 9.465.000đ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) do phạm tội mà có, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội Đánh bạc.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.

2. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Áp dụng khoản 3 Điều 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong gồm 01 quyển sổ giáo án cắt một nửa, 01 bút bi, 03 cáp đề.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6 cũ đã qua sử dụng và số tiền 9.465.000đ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19-9-2018).

Cỡ chữ