- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu Giống D - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lầu Giống D phạm vào tội “ Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HS-ST Ngày 21/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Thào A Tủa
2.Ông Quàng Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở UBND xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với.
Bị cáo Lầu Giống D; sinh năm 1963 tại xã Tà T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Nậm V, xã Chung Ch, huyện Mường N, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lầu Trừ P (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết); bị cáo có vợ là Hạng Thị Í sinh năm 1965; bị cáo có 07 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2018 đến nay, có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: UBND xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé. Ông Lò Văn Xuân chủ tịch UBND xã là người đại diện theo ủy quyền. Có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Thào A Vàng. Có mặt.
Trú tại: Bản Nậm Vì, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 2 năm 2018 bị cáo Lầu Giống D một mình cầm theo 01 (một) con dao phát ( quắm) và 01 chiếc búa rìu đến khu rừng thuộc bản Cây Sổ, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé để chặt và phát rừng, mục đích lấy đất rừng để làm nương. Bị cáo Lầu Giống D thực hiện việc chặt phá rừng liên tục trong một thời gian thì phát xong khu rừng trên. Đến ngày 06 tháng 2 năm 2018 tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé tuần tra phát hiện và đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi phá rừng trái pháp luật. Sau đó tổ công tác tổ chức khám nghiệm hiện trường, xác định diện tích rừng bị cáo Lầu Giống D chặt phá là 7.956 m2; tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 17,981m3 gỗ tròn nhóm III – VIII; khối lượng củi bị thiệt hại là 9,006m3 và 2.689 cây tre, cây nứa Mức độ thiệt hại của khu rừng 100%, là rừng sản xuất, loại rừng hỗn giao có vị trí tại khoảnh 1, tiểu khu 133 thuộc khu vực bản Cây Sổ, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, do UBND xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé quản lý và bảo vệ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/ KL - HĐĐGTSTTHS ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản, xác định giá trị thiệt hại về gỗ của Lầu Giống D chặt phá gây ra thiệt hại tính thành tiền là : 28.042.000 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 35/CT-VKS -MN ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Lầu Giống D để xét xử về tội: Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b; s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lầu Giống D từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106;136 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lầu Giống D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Tại phiên tòa ông Lò Văn Xuân sau khi đưa ra các tài liệu xác định khu rừng bị chặt phá là rừng sản xuất, loại rừng hỗn giao do UBND xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé quản lý, bảo vệ; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trên diện tích rừng với số tiền là : 28.042.000 đồng ( Hai mươi tám triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng ) cho Nhà nước và yêu cầu khoanh nuôi, bảo vệ để rừng tái sinh số diện tích rừng mà bị cáo đã chặt phá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, thành viên hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa, người bào chữa, nguyên đơn dân sự, người phiên dịch đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại hoặc ý kiến gì.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào đầu tháng 2 năm 2018 bị cáo Lầu Giống D có hành vi hủy hoại rừng bị tổ công tác Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé làm nhiệm vụ tại khu vực bản Cây Sổ, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên phát hiện và lập biên bản là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi hủy hoại rừng với diện tích là 7.956 m2 là rừng sản xuất, loại rừng hỗn giao diện tích chặt phá là 100%. Mục đích hủy hoại rừng là để lấy đất làm nương cho gia đình bị cáo Lầu Giống D đã phạm tội " Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về hủy hoại rừng, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hủy hoại rừng là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có đất để làm nương, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến môi trường sinh thái, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lầu Giống D sinh ra và lớn lên ở xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không đi học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1992 di cư về bản Nậm Vì, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên làm ăn sinh sống. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại do hành vi của mình gây nên. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b; s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lầu Giống D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lầu Giống D từ 18 đến 24 tháng tù. Xét thấy đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần xem xét, xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát. Tại phiên toà bị cáo Lầu Giống D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình phạt đối với bị cáo.
[ 6] Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa yêu cầu của ông Lò Văn Xuân là hoàn toàn phù hợp với qui định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 585, 589 Bộ luât Dân sự cần phải xem xét chấp nhận.
Căn cứ vào qui định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lầu Giống Dình còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét hoàn cảnh, kinh tế gia đình bị cáo Lầu Giống D còn nhiều khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu xử lý theo qui định của pháp luật.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Lầu Giống D phạm vào tội “ Hủy hoại rừng”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b; s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lầu Giống D: 20 ( Hai mươi) tháng tù.Thời gian chấp hành tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17 tháng 8 năm 2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lầu Giống D phải bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 28.042.000 đồng ( Hai mươi tám triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng ).Trừ số tiền gia đình bị cáo đã nộp là: 2.000.000đồng (Hai triệu đồng). Bị cáo Lầu Giống D còn phải bồi thường tiếp là: 26.042.000 đồng ( Hai mươi sáu triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. rư ng h p b n án quy t đ nh đư c thi h nh án theo quy đ nh t i i u
uật thi h nh án dân sự thì ngư i đư c thi h nh án dân sự ngư i ph i thi h nh án dân sự c quy n th a thuận thi h nh án quy n yêu c u thi h nh án, tự nguyện thi h nh án ho c b cư ng ch thi h nh án theo quy đ nh t i các i u
v i u uật thi h nh án dân sự th i hiệu thi h nh án đư c thực hiện theo quy đ nh t i i u
uật thi h nh án dân sự
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ : 01 ( một) con dao phát ( dao quắm) và 01 (một) chiếc búa rìu. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 7 năm 2018 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
4. Về án ph : Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí giá ngạch dân sự sơ thẩm và hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lầu Giống D. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo Lầu Giống D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bị cáo; Nguyên đơn dân sự; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên Các thành viên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |