- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Án Trang - Hoàn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huyền Tr đối với anh Nguyễn Trọng H. Chị Nguyễn Thị Huyền Tr được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HNGĐ-ST Ngày 26/10/2018 “V/v Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Chiến
Bà Mai Tƣờng Vi
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kim Uyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Bích Hạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/10/2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 307/2018/TLST- HNGĐ ngày 07/8/2018 về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2018/QĐST – HNGĐ ngày 12/10/2018 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm 1987;
Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, khu Đập N 1, phường Cẩm Th, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng Ninh;
Nghề nghiệp: Nhân viên - Công ty xây dựng công nghiệp mỏ, có mặt.
-Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1983;
Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, khu Đập Nước 1, phường Cẩm Th, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng Ninh;
Nghề nghiệp: Nhân viên - Công ty cổ phần du lịch và thương mại – Vinacomin – Chi nhánh Vân Long, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền Tr trình bày: Tôi và anh Nguyễn Trọng H xây dựng gia đình với nhau từ năm 2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thủy, thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố Cẩm Phả), tỉnh Quảng Ninh ngày 15/11/2007 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau một năm. Sau khi kết hôn, tôi và anh Hsống chung tại nhà của bố mẹ anh Hở tổ 3, khu Đập Nước 1, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung của vợ chồng ngay từ những ngày đầu mới lấy nhau đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh Hhay đi chơi uống rượu thâu đêm, nhiều lần không về nhà hoặc về nhà quá khuya và trong tình trạng say quá mức dẫn đến chửi bới, xúc phạm tôi, đập vỡ đồ dùng trong gia đình; anh Hlàm được bao nhiêu tiền đều dùng để ăn chơi hết, thậm chí còn nợ nần, không hề có trách nhiệm gì với gia đình, vợ con. Tôi, gia đình hai bên và khu phố đã khuyên can, hòa giải rất nhiều lần nhưng anh Hvẫn không thay đổi. Tôi và anh Hđã sống ly thân gần hai năm nay, không còn quan hệ gì với nhau nữa, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hđể ổn định cuộc sống. Tôi và anh Hcó một con chung là Nguyễn Bảo Ngọc Nh, sinh ngày 29/5/2012, hiện nay con chung đang ở với tôi. Khi ly hôn, tôi xin tiếp tục được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Hcấp dưỡng cho con. Tôi hiện nay đang làm việc tại Công ty xây dựng công nghiệp mỏ thu nhập bình quân 6.000.000 đồng/tháng, tôi còn đi làm thêm và các điều kiện khác tôi đều đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Trọng H: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền Tr đối với anh Nguyễn Trọng H nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền Tr. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền Tr. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Nguyễn Trọng H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thủy, thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố Cẩm Phả), tỉnh Quảng Ninh ngày 15/11/2007. Cuộc sống chung của chị Tr và anh Hngay từ khi lấy nhau đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân như chị Tr trình bày nêu trên, vợ chồng đã sống ly thân gần hai năm nay. Chị Tr xét thấy không còn tình cảm với anh H, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hđể ổn định cuộc sống; anh Nguyễn Trọng H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không rõ quan điểm của anh Hvề tình trạng hôn nhân của vợ chồng, anh Hcó còn tình cảm với chị Tr hay không. Chị Tr và anh Hcó một con chung Nguyễn Bảo Ngọc Nh, sinh ngày 29/5/2012. Chị Tr có quan điểm xin được trực tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Hcấp dưỡng cho con. Về điều kiện nuôi dưỡng con chung, theo chị Tr trình bày nêu trên là đảm bảo. Anh Hkhông có mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không rõ quan điểm của anh Hvề phần con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr xác định là không có; anh Hkhông có mặt nên không rõ quan điểm của anh Hvề phần tài sản chung, nợ chung.
Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tiến hành thu thập chứng cứ tại nơi chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Nguyễn Trọng H cư trú, được đại diện khu phố cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của chị Tr và anh Hvề cơ bản đúng như chị Tr đã trình bày nêu trên.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như nêu trên, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Nguyễn Trọng H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tr đối với anh Hoàn; đối với yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Tr, do anh Hkhông có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét thấy chị Tr có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Tr; chị Tr không yêu cầu anh Hcấp dưỡng cho con nên không đề cập. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr xác định là không có, anh Hkhông có mặt nên không rõ quan điểm của anh Hvề phần tài sản chung, nợ chung nên không đề cập.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huyền Tr đối với anh Nguyễn Trọng H. Chị Nguyễn Thị Huyền Tr được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.
Giao cho chị Nguyễn Thị Huyền Tr có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Bảo Ngọc Nh, sinh ngày 29/5/2012 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Trọng H không phải cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr xác định là không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Tr đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004077 ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị Tr đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tp Cẩm Phả; - Chi cục THADS tp Cẩm Phả; -UBND phường Cẩm Thủy; -Các đương sự; -Lưu HSVA; VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thúy Hằng |