- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích V đối với ông Đỗ Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
| Tßa ¸n nh©n d©n quËn s¬n trµ céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam Thµnh phè ®µ n½ng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HNGĐ-ST Ngày: 14-11-2018 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các hội thẩm nhân dân :
Bà Dương Thị Bình
Ông Mai Hồ Hải Thành
-Thư ký phiên tòa : Bà Phạm Thị Thảo – Là Thư ký tòa án nhân dân quận
Sơn Trà – TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2018/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018 Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2018/QĐST-HPT ngày 25/10/2018 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V. Sinh năm : 1987. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trú tại : Thôn 5 xã T, huyện T, tỉnh Q, có mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn T. Sinh năm: 1985. Nghề nghiệp: Công nhân.
Trú tại : Tổ 25 A , phường A, quận S, TP. Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2018 nộp đến Tòa án ngày 27/6/2018, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân : Bà và ông Đỗ Văn T kết hôn vào năm 2006. Có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà TP. Đà Nẵng.Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, sau khi chung sống vợ chồng bà sống tại phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng. Vợ chồng bà V sống hạnh phúc được hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn, khi phát sinh mâu thuẫn bà V sống ly thân từ năm 2008 cho đến bây giờ năm 2018. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải vả xô xát với chồng và gia đình chồng. Bà V không chiụ được cách sống như vậy, nên ôm con về nhà ba mẹ ruột sống. BàV và ông T đã ly thân nhau quá lâu, không ai quan tâm nhau trong cuộc sống, cuộc sống hôn nhân không có ý nghĩa.Nay bà V xác định là không còn tình cảm với ông Đỗ Văn T nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà V được ly hôn với ông Đỗ Văn T.
Về con chung : Bà V xác định có 01 con chung là Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006. Ly hôn nguyện vọng của bà V được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu ông Đỗ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về T sản chung : Bà V xác định không có.
Về nợ chung : Bà V xác định không có.
Bị đơn, ông Đỗ Văn T từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu về sự tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự. Theo ®ã: ThÈm ph¸n, Thư ký, Héi ®ång xÐt xö tu©n thñ ®óng ph¸p luËt tõ kh©u thô lý, hßa gi¶i, thu thËp chøng cø vµ më phiªn tßa xÐt xö ®óng nguyªn t¾c chung. Nguyªn ®¬n chÊp hµnh nghiªm chØnh ph¸p luËt tè tông. Riªng bÞ ®¬n kh«ng thùc hiÖn c¸c quyÒn vµ nghÜa vô tè tông của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung xét thấy quan hệ hôn nhân của bà V và ông T đã thật sự trầm trọng nên cần áp dụng điều 51, 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh ViÖt Nam cho bà V được ly hôn ông T; về con chung: Bà V có nguyện vọng được nuôi con chung là Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006 cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông T không có ý kiến, yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam giao con chung là Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, về T sản chung, nợ chung: không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
VÒ thñ tôc tè tông: ¤ng Đỗ Văn T lµ bÞ ®¬n trong vô ¸n, ®· ® îc Tßa ¸n triÖu tËp hîp lÖ nhiÒu lÇn ®Ó tham gia tè tụng nh ng kh«ng cã mÆt. Tại phiên tòa hôm nay ông Đỗ Văn T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, v× vËy, Héi ®ång xÐt xö c¨n cø điều 228 Bé luËt tè tông d©n sù năm 2015 ®Ó xÐt xö v¾ng mÆt bÞ ®¬n.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Bích V và ông Đỗ Văn T kết hôn năm 2006 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 159, quyển số 02 cấp ngày 24/11/2006. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vợ chồng bà V, ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà V khai nại là do quan điểm sống và tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải nhau, cuộc sống của bà V và gia đình chồng không hòa hợp được. Khi mâu thuẫn xảy ra bà V, ông T cũng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà V xác định không còn yêu thương ông T nên xin được ly hôn, còn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến về quan hệ hôn nhân này. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà V thì thấy: Giữa bà V và ông T từ khi kết hôn năm 2006 đến nay hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn xảy ra cả hai bên đều không có giải pháp gì để hàn gắn và xây dựng lại gia đình. Đối với ông T có ý thức để mặc, không tham gia các phiên hòa giải, chứng tỏ không còn tha thiết với chính gia đình của mình. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hai bên không còn mục đích xây dựng hạnh phúc chung. Đại diện tổ dân phố nơi ông bà sinh sống xác định giữa bà V và ông T có mâu thuẫn nên bà V đã tự ý sống ly thân với ông T từ năm 2008 đến nay. Do vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải duy trì cuộc hôn nhân mà thực tế đã không còn tồn tại nữa mà giải quyết cho bà V được ly hôn với ông T là phù hợp quy định tại điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Bà V xác định có 01 con chung là Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006 bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông Đỗ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần, cháu Đỗ Văn T1 đang chung sống với bà V, ông T không có ý kiến gì về vấn đề nuôi con nên cần tiếp tục giao con Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Do bà V không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đề cập đến.
Về T sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích V xác định không có. Ông T không có ý kiến gì về các vấn đề này nên HĐXX không đề cập giải quyết. Sau này các đương sự có tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích V đối với ông Đỗ Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Bích V được ly hôn với ông Đỗ Văn T.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích V đối với ông Đỗ Văn T nên giấy chứng nhận kết hôn số 159, quyển số 02 do UBND phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng cấp ngày 24/11/2016 không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: Giao con Đỗ Văn T1, sinh ngày 17/12/2006 cho bà Nguyễn Thị Bích V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về T sản chung: Không đề cập đến
- Về nợ chung : Không đề cập đến
* Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu, được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, biên lai thu số 008821 ngày 02/7/2018.
Báo cho bà Nguyễn Thị Bích V biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/11/2018. Riêng ông Đỗ Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân quận Sơn Trà - Đà Nẵng; - Chi cục THA dân sự quận Sơn Trà, ĐN; - Các đương sự; - UBND phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng - Lưu hồ sơ, VT. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa HỒ THỊ MỸ DUNG |