vanban.org

Bản án 55/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Thanh C về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Hồng Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh C. Về quan hệ con chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn Phan Thị Hồng Y và Nguyễn Thanh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Thanh C về việc “Tranh chấp ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN ND QUẬN LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 55/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14/11/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Hoa

2. Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 304/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hồng Y- Sinh năm 1990; Địa chỉ: K1063 đường N, phường H, quận L, thành phố Đ. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh C - Sinh năm 1977; Địa chỉ: K1063 đường N, phường H, quận L, thành phố Đ. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 01 tháng 6 năm 2018, Bản tự khai ngày 18 tháng 7 năm 2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng Y trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Thanh C xây dựng gia đình vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi chung sống tại K1063 đường N, phường H, quận L, thành phố Đ. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, tôi không còn tình cảm với ông Nguyễn Thanh C nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông C.

- Về con chung: Tôi và ông C không có con chung.

- Về tài sản chung: Tôi và ông C không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Tôi và ông C không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh C không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, ông C vắng mặt lần hai. Tuy nhiên, tại đơn trình bày gửi đến Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu ông Nguyễn Thanh C có ý kiến như sau: Ông C xác nhận ông và bà Phan Thị Hồng Y kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống ông C nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, nên bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông C đề Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà Y.

- Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà Y không có con chung.

- Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà Y không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà Y không có nợ chung.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

+ Người tham gia tố tụng: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng Y đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Thanh C không tham gia quá trình tố tụng, không tham dự phiên tòa là đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, bà Phan Thị Hồng Y xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh C. Xét thấy hôn nhân giữa bà Phan Thị Hồng Y và ông Nguyễn Thanh C đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Yến, xử cho bà Phan Thị Hồng Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh C.

+ Về quan hệ con chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có con chung nên không đề cập.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có tài sản chung, nợ chung nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Thanh C, nhưng tại phiên tòa ông C vắng mặt lần hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh C.

Về nội dung: Tại phiên tòa bà Phan Thị Hồng Y giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Hồng Y và ông Nguyễn Thanh C xây dựng gia đình vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ. Quá trình xác minh tại địa phương thể hiện giữa hai vợ chồng bà Y, ông C thường hay gây gỗ và hiện nay ông C bà Y không sống chung với nhau. Tại phiên tòa hôm nay bà Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh C.

Xét thấy bị đơn ông Nguyễn Thanh C đã được Tòa án thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay ông C vắng mặt thể hiện ông C không mong muốn đoàn tụ gia đình. Ông C cũng có đơn trình bày đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Y.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của bà Phan Thị Hồng Y và ông Nguyễn Thanh C đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Thanh C.

- Về quan hệ con chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có con chung nên không đề cập.

- Về tài sản chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có tài sản chung nên không đề cập.

- Về nợ chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có nợ chung nên không đề cập.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Phan Thị Hồng Y phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Thanh C về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Hồng Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh C.

2. Về quan hệ con chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có con chung.

3.Về tài sản chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có tài sản chung.

4. Về nợ chung: Bà Phan Thị Hồng Y xác định giữa bà và ông Nguyễn Thanh C không có nợ chung.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà Phan Thị Hồng Y phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn ngàn đồng) bà Yến đã nộp tại biên lai thu số 0003054 ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà Y đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ