- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2017/HSST Ngày 30/8/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hợp.
Ông Hoàng Văn Quyến.
- Thư ký phiên toà: Bà Lăng Thị Em- Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phù Trung Tướng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân, xã Thanh Long, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 51/ 2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 đối với:
* Bị cáo Tô Văn H, sinh ngày 11/6/1996. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh L, nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Tô Văn N và bà Lương Thị T; vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2017 tại nhà tạm giữ Công an huyện V đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Tô Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2017, tại khu 2 thị trấn N, huyện V , tỉnh L, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lanh Sơn phát hiện bắt quả tang Tô Văn H đang có hành vi tàng trữ 29 (hai mươi chín) gói ma túy, mục đích để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 218/PC54 ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận:
1. Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Hêrôin, có tổng trọng lượng 0,878g (đã trừ bì).
Tại bản cáo trạng số 52/CT- VKS ngày 15/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Tô Văn H ra trước Tòa án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Tô Văn H, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Vận dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để áp dụng các nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Tô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tô Văn H vì bị cáo không có tài sản gì, là người nghiện.
Đối với người đàn ông người Trung Quốc bán ma túy cho Tô Văn H do điều kiện lãnh thổ, nên không đủ điều kiện xác minh làm rõ. Không đề nghị xem xét giải quyêt.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Trả lại cho bị cáo Tô Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã cũ, có nắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu FPT màu vàng đã cũ có nắp 01 (một) sim Viettel.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín “QT Tô Văn H đựng chất ma túy đã giám định, bên trong có 0,784 gam Hêrôin còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Tô Văn H khai nhận diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thất nhất.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Vận dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để áp dụng các nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử cho bị cáo Tô Văn H được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là 01 (một) năm tù giam.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tô Văn H vì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy 0,784 gam Hêrôin còn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo Tô Văn H 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã cũ và 01(một) điện thoại nhãn hiệu FPT màu vàng đã cũ trong hai chiếc điện thoại này đều nắp 01 (một) sim Viettel. Đây là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và số lượng ma túy Hêrôin thu giữ được của bị cáo là 29 gói; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định số 218/PC54 ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 15/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Tô Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Tuy nhiên, khi xét xử các vụ án hình sự thuộc các trường hợp “ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành được quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13. Tòa án vận dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều luật theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/205/QH13, Luật tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.
Cụ thể: Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người nào tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm’’ còn theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c, Hêrôin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do vậy, khi điều tra, truy tố, xét xử phải áp dụng Điều luật có lợi trên cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội. Ma tuý là các hỗn hợp chất hoá học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, gây kích thích hoặc ức chế thần kinh. Khi ma tuý xâm nhập vào cơ thể, có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, khiến con người bị lệ thuộc vào nó. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ mà còn làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá và nhân cách của con người. Ma tuý cũng chính là tác nhân dẫn đến tình trạng lây nhiễm căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, mại dâm. Đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội trong tình hình hiện nay. Chính vì vậy đối với những hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý đều phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân con người cũng như những ảnh hưởng tiêu cực khác của ma túy đối với an ninh trật tự và mọi mặt của đời sống xã hội vì bản thân bị cáo là nạn nhân của loại tệ nạn ma tý này, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, mục đích tàng trữ ma túy là nhằm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử, sau khi cân nhắc xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì xét thấy cần cách ly bị cáo Tô Văn H ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, để bị cáo có thời gian cải tạo, sửa chữa những lỗi lầm của mình và trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bản thân bị cáo không có tài sản gì. Vì vây, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người Trung Quốc bán ma túy cho bị cáo Tô Văn H do điều kiện về lãnh thổ nên không đủ điều kiện xác minh làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín “QT Tô Văn H đựng chất ma túy đã giám định, có chữ ký của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định, và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; bên trong có 0,784 gam Hêrôin còn lại sau giám định. Xét thấy, đây là vật cấm lưu hành. Tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã cũ, có nắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu FPT màu vàng đã cũ có nắp 01 (một) sim Viettel. Xét thấy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Trả lại cho bị cáo.
Tại phiên toà hôm nay vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V; vị trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tô Văn H và xử lý các tang vật của vụ án. Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.
Về án phí: Bị cáo Tô Văn H là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
Vận dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều luật theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/205/QH13, Luật tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Tô Văn H 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 02/6/2017.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín “QT Tô Văn H” đựng chất ma túy đã giám định, có chữ ký của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định, và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L; bên trong có 0,784 gam Hêrôin còn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo Tô Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng số Imei: 35500115180102, bên trong lắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu vàng đã cũ số IMEI: 980029009391957 bên trong lắp 01 (một) sim Viettel.
(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2017).
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng cho bị cáo Tô Văn H.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự".
Bị cáo có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn (1b); - VKSND huyện Văn Lãng (1b); - Công an huyện Văn Lãng (1b); - Chi cục THA dân sự huyện Văn Lãng (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn (1b); - Bị cáo (1b); - Người bào chữa (1b); - Bộ phận thi hành án hình sự (2b); - Lưu (văn phòng; hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Thị Hà |