vanban.org

Bản án 55/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T(tên goi khác là: Kế) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 139; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T (Kế) phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T(tên goi khác là: Kế) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2017/HSST
Ngày 26 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Hữu Lực

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Liễu

Ông Nguyễn Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn T(tên gọi khác: Kế), sinh ngày 19/7/1990

Nơi cư trú: Tổ dân phố VT, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hoá: lớp 12/12; bố đẻ: Dương Văn G, sinh năm 1957; mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1961, bố, mẹ bị cáo cư trú và làm ruộng tại thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: có 01, tại Quyết định số: 09/2014/QĐ-TA ngày 25/7/2014 của TAND huyện Lập Thạch áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 11/8/2016; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/7/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1964 Nơi cư trú: TDP. TN, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ Cao L, sinh năm 1979 Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐL, xã Đông Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Nơi tạm trú: Thôn ĐQ, xã Xuân Hòa, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1992 Nơi cư trú: TDP. TN, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/7/2017, Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) đi bộ đến tổ dân phố Long Cương, thị trấn Lập Thạch chơi. Tại đây, Tgặp ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn Nghĩa và ông Trần Văn Lục. Do quen biết từ trước khi cùng làm thợ xây dựng nên Tnảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của ông Q, bán lấy tiền tiêu sài. Để tạo lòng tin, Trủ mọi người đi uống bia tại quán Công nhân ở tổ dân phố Long Cương, thị trấn Lập Thạch. Trong lúc đang uống bia, Thỏi mượn ông Q chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát 88D1-139.49, đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức C (con trai ông Q) và nói dối là để đi đón bạn đến uống bia cùng mọi người. Ông Q đồng ý và đưa chìa khoá chiếc xe mô tô cho Thế. Sau đó Tđiều khiển xe máy đến thẳng nhà Đỗ Huy Thành (tên gọi khác là Tuấn) ở tổ dân phố Long Cương, thị trấn Lập Thạch để cầm cố xe. Khi đến nơi, Tgặp anh Thành và Đỗ Cao L đang ngồi uống nước. Tại đây Tnói có chiếc xe máy muốn bán nên anh L hỏi “Xe có giấy tờ gì không’’. Tmở cốp xe kiểm tra thấy có 01 chiếc ví giả da màu đen bên trong có tiền và nhiều loại giấy tờ khác nhau, Tlấy chiếc đăng ký xe máy biển kiểm soát 88D1-139.49 đưa cho L và nói muốn bán chiếc xe trên với giá 10.000.000đ. L đồng ý và trả cho Tsố tiền 10.000.000đ và hẹn Tngày 07/7/2017 đến nhà L để làm giấy tờ mua bán. Sau đó Tcầm tiền bắt taxi xuống thành phố Vĩnh Yên tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi biết T lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe của mình, ông Q đã có đơn trình báo Cơ quan Công an.

Ngày 07/7/2017, anh Đỗ Cao L đã tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát 88D1-139.49; 01 ví giả da màu đen bên trong có 453.000đ, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 02 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Văn Q; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 88D1-139.49 mang tên Nguyễn Đức C, 02 bảo hiểm xe mô tô bắt buộc của xe mô tô 88D1-139.49 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lập Thạch để phục vụ điều tra.

Tại bản Kết luận số 114/KL-HĐĐG ngày 12/7/2017, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đen đỏ, biển kiểm soát 88D1-139.49, số khung: 5289DY013994, số máy: JC52E1058444, đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức C trị giá là 12.500.000đ.

Ngày 02/8/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tài sản, giấy tờ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát 88D1-139.49; 01 ví giả da màu đen bên trong có 453.000đ, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 02 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Văn Q; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 88D1-139.49 mang tên Nguyễn Đức C, 02 bảo hiểm xe mô tô bắt buộc của xe mô tô 88D1-139.49. Ông Q đã nhận lại số tài sản trên và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với anh Đỗ Cao L khi mua xe của Tvới giá 10.000.000đ, anh L không biết đây là tài sản có nguồn gốc do phạm pháp mà có. Cơ quan điều tra đã nhắc nhở giáo dục và không đề cập xử lý hình sự. Anh L yêu cầu Tbồi thường số tiền 10.000.000đ đã trả khi mua xe. Đến nay bị cáo chưa bồi thường được khoản tiền nào.

Tại bản cáo trạng số: 57/KSĐT-KT ngày 14 tháng 9 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Dương Văn Thế. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Dương Văn Ttừ 09 tháng tù đến 12 tháng tù và buộc bị cáo Tphải bồi thường cho anh L số tiền 10.000.000đ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) hoàn toàn khai nhận hành vi ngày 06/7/2017, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX, biển kiểm soát 88D1-139.49 màu sơn đen đỏ, bên trong cốp xe có 453.000đ và nhiều loại giấy tờ khác, rồi đem bán cho anh Đỗ Cao L với giá 10.000.000đ, như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Dương Văn Tphạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng…, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, gây nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo không chịu lao động mà dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin của ông Nguyễn Văn Q, để ông Q giao xe máy cho bị cáo, sau đó bị cáo chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa C.

Xét nhân thân bị cáo Tthấy rằng: Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, mới chấp hành xong ngày 11/8/2016. Mặc dù lần phạm tội đó bị cáo đã được xóa án tích không được coi là tiền án, tiền sự, nhưng qua các lần xử lý đó bị cáo lại không lấy đó làm bài học để tự tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại phạm tội do lỗi cố ý. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng cũng phải là phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo Tthấy rằng bị cáo không có việc làm ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng gì khác. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án: Xét việc anh Đỗ Cao L yêu cầu Tphải bồi thường số tiền 10.000.000đ là có căn cứ nên được chấp nhận và buộc bị cáo phải bồi thường cho anh L số tiền nêu trên.

Ngày 02/8/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tài sản, giấy tờ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát 88D1-139.49; 01 ví giả da màu đen bên trong có 453.000đ, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 02 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Văn Q; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 88D1-139.49 mang tên Nguyễn Đức C, 02 bảo hiểm xe mô tô bắt buộc của xe mô tô 88D1-139.49, xét thấy việc trả lại tài sản cho ông Q là đúng chủ sở hữu nên cần được xác nhận.

Về án phí: Bị cáo Dương Văn Tphải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T(tên goi khác là: Kế) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 139; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T(tên gọi khác là: Kế) 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/7/2017.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 41; Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Điều 76, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xác nhận ngày 02/8/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tài sản, giấy tờ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát 88D1-139.49; 01 ví giả da màu đen bên trong có 453.000đ, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 02 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Văn Q; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 88D1-139.49 mang tên Nguyễn Đức C, 02 bảo hiểm xe mô tô bắt buộc của xe mô tô 88D1-139.49 là hợp pháp.

Buộc bị cáo Tphải bồi thường cho anh Đỗ Cao L số tiền 10.000.000đ.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, anh L có đơn đề nghị thi hành án, nếu bị cáo Tkhông thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì còn phải chịu một khoản tiền lãi do chậm trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Dương Văn Tphải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự trong án hình sự..

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ