- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LH Thu - Tuấn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hoài T được ly hôn anh Vũ Mạnh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2017/HNGĐ - ST Ngày 29/9/2017 “V/v ly hôn giữa chị T và anh T”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nghĩa
2. Ông Nguyễn Ngọc Trứ
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2017/TLST- HNG§ ngµy 05 th¸ng 5 n¨m 2017 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2017, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoài T, sinh năm 1997 Địa chỉ: Thôn Đồng Hòa, Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang (có mặt).
2/ Bị đơn: Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1994 Địa chỉ: Thôn Đồng Hòa, Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 20/02/2017, Bản tự khai ngày 05/5/2017, nguyên đơn là chị Trần Thị Hoài T trình bày: Chị và anh Vũ Mạnh T đăng ký kết hôn với nhau năm 2014 trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa Tận được khoảng một năm thì phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn, thường xuyên đánh đập chị. Vì vậy chị đã về nhà mẹ đẻ để chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh T. Mặc dù đã được hai bên gia đình và các đoàn thể hòa giải nhưng chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị không trở lại chung sống cùng anh T nữa. Nay chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung, chị T trình bày, vợ chồng anh chị có một con chung là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 12/8/2013, hiện đang được chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Về phía anh Vũ Mạnh T, kể từ sau khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không đến Tòa án làm việc mà không nêu rõ lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Tòa án và Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Đề nghị HĐXX: Xử cho chị T được ly hôn anh T. Giao cho chị T được tiếp tục nuôi con chung, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng do chị T chưa yêu cầu. Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Mặc dù bị đơn là anh Vũ Mạnh T vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lần thứ 2 nên cần áp dụng điểm b khoản 2 điều 227 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với anh T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Chị T và anh T chung sống với nhau như vợ chồng và có con chung từ trước rồi mới tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 26/5/2014. Tại thời điểm anh chị đăng ký kết hôn, cả hai anh chị đã đến tuổi kết hôn theo quy định nên cần xác định hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp kể từ ngày 26/5/2014. Quá trình chung sống, do cả hai còn quá trẻ, anh T không tu chí làm ăn, lại thường xuyên đánh đập chị T nên vợ chồng anh chị sớm nảy sinh mâu Tẫn khiến chị T phải bỏ về nhà mẹ đẻ. Mâu Tẫn giữa anh chị đã được đôi bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả, chị T vẫn cương quyết xin ly hôn, anh T không đến Tòa án làm việc, cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, chứng tỏ anh T cũng không thiết tha với nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, mâu Tẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho chi T được ly hôn anh T là phù hợp quy định tài Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có một con chung là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 12/8/2013, hiện đang được chị T nuôi dưỡng, đời sống và sức khỏe được đảm bảo. Nay chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh T không đưa ra ý kiến gì, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cho chị T được nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên nghĩa vụ này chưa đặt ra đối với anh T cho đến khi có yêu cầu.
Về tài sản: Cả hai anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 81, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự (2015); Điều 18, 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hoài T được ly hôn anh Vũ Mạnh T.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Hoài T được nuôi con chung là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 12/8/2013. Anh Vũ Mạnh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T cho đến khi các đương sự có yêu cầu, đồng thời được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Án phí: Chị Trần Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001591 ngày 05/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa (xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí).
Báo cho đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND huyện Hiệp Hoà - Chi cục THA DS Hiệp Hoà - Các đương sự - Lưu hồ sơ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANG ………………. BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANG VỚI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ : Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Chu Mạnh Hà Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Trứ 2. Ông Nguyễn Văn Nghĩa Căn cứ vào Điều 264 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vào hồi 11 giờ ngày 29 tháng 9 năm 2017 hôn, giữa: Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoài T, sinh năm 1997 Bị đơn: Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1994 Cùng địa chỉ: Thôn Đồng Hòa, Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang toà, kết quả việc xét hỏi và xem xét ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử thảo luận và thống nhất như sau: và gia đình; các Điều 28, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự (2015); Điều 18, 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Kết quả biểu quyết: 3/3 (= 100%). 2/ Về nội dung: Mạnh T. Hải Đăng, sinh ngày 12/8/2013. Anh Vũ Mạnh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T cho đến khi các đương sự có yêu cầu, đồng thời được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Kết quả biểu quyết: 3/3 (= 100%). 3/ Các vấn đề khác: khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001591 ngày 05/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa (xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí). Kết quả biểu quyết: 3/3 (= 100%). và ký tên dưới đây. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu mạnh Hà CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc ……………***………… Hiệp Hoà, ngày 29 tháng 9 năm 2017 Tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án ly Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được kiểm tra, xem xét tại phiên 1/ Về điều luật áp dụng: Áp dụng các Điều 56, 81, 83 của Luật hôn nhân Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hoài T được ly hôn anh Vũ Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Hoài T được nuôi con chung là Vũ Án phí: Chị Trần Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được Biên bản đã được thông qua, các thành viên HĐXX cùng nhất trí nội dung THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |