vanban.org

Bản án 549/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Áp dụng vào Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "MIRAE ASSET - VÕ ĐÌNH L - TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
  • Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 549/2026/DS-ST
Ngày: 13-8-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

2. Ông Huỳnh Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 1639/2026/TLST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 618/2026/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 487/2026/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)

Địa chỉ trụ sở chính: I P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện ủy quyền: Công ty L2.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty L2 Niềm Tin: Ông Nguyễn Tất T, Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 22/2025/GUQ-MAFC ngày 17/4/2025)

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm 2000 - Chức vụ: Chuyên viên pháp lý Công ty L2 (có đơn xin vắng mặt).

Căn cước số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp: 15/8/2025, nơi cấp: Bộ C.

Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 17/4/2025 của Công ty L2).

- Bị đơn: Ông Võ Đình L, sinh năm 2000. (vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp: 20/01/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Số B đường C, ấp P, xã A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2025; các bản tự khai; Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 23/4/2026, ngày 16/6/2026; Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 23/4/2026, ngày 16/6/2026; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành N trình bày:

Ngày 07/03/2024, Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5356602 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Võ Đình L với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng (gồm 20.000.000 đồng giải ngân ngày 07/3/2024 qua số tài khoản 18910000328114 mở tại Ngân hàng B và 1.540.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay), lãi suất 50%/năm; thời hạn vay: 30 tháng.

Sau khi ký kết, ngày 07/3/2024, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng số tiền quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Võ Đình L. Theo hợp đồng tín dụng, ông Võ Đình L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng cho công ty trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 25/03/2024 đến ngày 25/08/2026.

Sau khi được giải ngân ông Võ Đình L đã thanh toán 9.673.955 đồng (Trong đó: Gốc đã trả: 0 đồng (do Tại điều 3 Phần A của HĐTD có thể hiện tại phần sản phẩm vay là hợp đồng TOPUP (vay thêm/vay bổ sung) là thỏa thuận tín dụng cho phép khách hàng đang có khoản vay tại Công ty được vay thêm một khoản tiền mới dựa trên dư nợ đã trả. Đặc điểm của loại hợp đồng này là chỉ trừ vào tiền gốc của hợp đồng này khi đã tất toán hợp đồng vay trước đó (Khách hàng thực hiện đóng tiền theo lịch thanh toán có thể hiện rõ các khoản tiền cần phải đóng tại điều 4 Phần B trong HĐTD); L1 đã trả: 9.560.215 đồng; Phí thu hộ đã trả: 113.740 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 24/02/2025 ông Võ Đình L đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Do đó, kể từ ngày 24/02/2025 (kỳ thanh toán thứ 12) công ty bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà ông Võ Đình L vi phạm.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông Võ Đình L vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho phía Công ty T1 nên Công ty T1 đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc cá nhân ông Võ Đình L thanh toán cho Công ty T1 tổng cộng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2025 là: 30.590.109 đồng. (Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 6.777.068 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 2.018.242 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 254.799 đồng).

Đồng thời yêu cầu ông Võ Đình L phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5356602 ngày 07/3/2024 của ông Võ Đình L kể từ ngày 01/11/2025 cho đến ngày trả hết nợ cho Công ty T1 (Việt Nam). Yêu cầu ông Võ Đình L thanh toán một lần số tiền gốc và lãi còn nợ trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với bị đơn ông Võ Đình L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập nhưng ông Võ Đình L không đến Tòa án để tham gia vụ kiện. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nhưng đã có bản tự khai trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong đơn khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn và và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Võ Đình L phải trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 13/8/2026 (ngày xét xử sơ thẩm) là 42.440.402 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng; số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 9.958.220 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 10.007.504 đồng; số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 934.678 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/8/2026 cho đến khi thanh toán xong hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về phía bị đơn ông Võ Đình L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Võ Đình L vẫn vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã ban hành thông báo thụ lý vụ án giao cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh và đương sự theo đúng quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về việc tiến hành lập hồ sơ hòa giải, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, tống đạt các văn bản tố tụng và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Đình L thanh toán cho Công ty số tiền gốc và lãi còn nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn ông Võ Đình L có nơi cư trú tại xã A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

Về sự tham gia của các đương sự

Đối với đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành N sau khi cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của ông Nguyễn Phạm Thành N không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án và phù hợp với Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với bị đơn ông Võ Đình L: Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử để thông báo thời gian mở phiên tòa vào lúc 9 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 7 năm 2026 nhưng ông Võ Đình L vắng mặt; Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 13 tháng 8 năm 2026 nhưng hôm nay ông Võ Đình L vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt ông Võ Đình L là phù hợp với quy định Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Đình L thanh toán tổng số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 13/8/2026 (ngày xét xử sơ thẩm) là 42.440.402 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng; số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 9.958.220 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 10.007.504 đồng; số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 934.678 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/8/2026 cho đến khi thanh toán xong hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 5356602 ngày 07/03/2024, Phiếu báo nợ giải ngân tiền vào tài khoản; Bảng Tóm tắt sao kê và các tài liệu khác do Công ty cung cấp thì có cơ sở xác định: Vào ngày 07/03/2024, giữa Công ty T1 (Việt Nam) và ông Võ Đình L đã ký hợp đồng tín dụng số 5356602, theo đó Công ty T1 (Việt Nam) cấp tín dụng cho ông Võ Đình L với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng (gồm 20.000.000 đồng giải ngân ngày 07/03/2024 qua số tài khoản 18910000328114 mở tại Ngân hàng B và 1.540.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay), lãi suất 50%/năm; hình thức vay là tín chấp, ông Võ Đình L có trách nhiệm trả góp hàng tháng trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 25/03/2024 đến ngày 25/08/2026. Như vậy, giao kết giữa nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) và bị đơn ông Võ Đình L là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Căn cứ vào lịch sử thanh toán và xác nhận từ phía Công ty có căn cứ xác định sau khi được giải ngân, ông Võ Đình L đã thanh toán số tiền 9.673.955 đồng (Trong đó: Gốc đã trả: 0 đồng (do Tại điều 3 Phần A của HĐTD có thể hiện tại phần sản phẩm vay là hợp đồng TOPUP (vay thêm/vay bổ sung) là thỏa thuận tín dụng cho phép khách hàng đang có khoản vay tại Công ty được vay thêm một khoản tiền mới dựa trên dư nợ đã trả. Đặc điểm của loại hợp đồng này là chỉ trừ vào tiền gốc của hợp đồng này khi đã tất toán hợp đồng vay trước đó (Khách hàng thực hiện đóng tiền theo lịch thanh toán có thể hiện rõ các khoản tiền cần phải đóng tại điều 4 Phần B trong HĐTD); L1 đã trả: 9.560.215 đồng; Phí thu hộ đã trả: 113.740 đồng), ngày 23/02/2025 là ngày thanh toán cuối cùng. Ông Võ Đình L đã ngưng không thanh toán tiền gốc và lãi cho Công ty là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm thỏa thuận đã ký kết.

Do vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu ông Võ Đình L thanh toán một lần tổng số tiền gốc còn nợ là 21.540.000 đồng là phù hợp với khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi:

Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu ông Võ Đình L có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính từ ngày phát sinh giao dịch đến ngày 13/8/2026 (ngày xét xử sơ thẩm) là 20.900.402 đồng. Trong đó: Số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 9.958.220 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 10.007.504 đồng; số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 934.678 đồng; đồng thời thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/8/2026 cho đến khi thanh toán xong hết nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 5356602 ngày 07/03/2024; Báo cáo về khung lãi suất cho vay tiêu dùng số 190/2023/BC-MAFC ngày 03/3/2023 thể hiện lãi suất tại thời điểm vay vốn là 50%/năm. Đồng thời, theo thỏa thuận giữa các bên tại mục 8.3 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì khi ông Võ Đình L vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Công ty được quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại đối với toàn bộ dư nợ.

Do vậy, việc Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu ông Võ Đình L thanh toán tiền lãi tạm tính đến ngày 13/8/2026 là 20.900.402 đồng. Trong đó: Số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 9.958.220 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 10.007.504 đồng; số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 934.678 đồng; đồng thời thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/8/2026 cho đến khi thanh toán xong hết nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ chấp nhận.

Đối với bị đơn ông Võ Đình L, tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Võ Đình L đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng ông Võ Đình L vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu bị đơn ông Võ Đình L thanh toán số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến 13/8/2026 là 42.440.402 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng; số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 21.540.000 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 10.007.504 đồng; số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 934.678 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/8/2026 cho đến khi thanh toán xong hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ chấp nhận.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Đình L chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Áp dụng vào Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Áp dụng vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam).

Buộc ông Võ Đình L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền gốc và lãi (lãi tạm tính đến ngày 13/8/2026) còn nợ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5356602 ngày 07/03/2024 là 42.440.402 (Bốn mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi ngàn bốn trăm lẻ hai) đồng. Trong đó:

- Nợ gốc: 21.540.000 (Hai mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi ngàn) đồng.

- Số tiền lãi trong hạn: 9.958.220 (Chín triệu chín trăm năm mươi tám ngàn hai trăm hai mươi) đồng.

- Số tiền lãi quá hạn: 10.007.504 (Mười triệu không trăm lẻ bảy ngàn năm trăm lẻ bốn) đồng.

- Số tiền lãi chậm trả: 934.678 (Chín trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm bảy mươi tám) đồng.

Tiền lãi vẫn tiếp tục phát sinh tính trên số dư nợ gốc tính từ ngày 14/8/2026 cho đến khi ông Võ Đình L thanh toán xong số nợ gốc theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5356602 ngày 07/03/2024 giữa Công ty T1 (Việt Nam) và ông Võ Đình L.

Việc thanh toán các khoản tiền được thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Võ Đình L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.122.020 (Hai triệu một trăm hai mươi hai ngàn không trăm hai mươi) đồng, thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 764.753 (Bảy trăm sáu mươi bốn ngàn bảy trăm năm mươi ba) đồng theo biên lai thu tiền số 0009925 ngày 02/02/2026 của Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và Điều 72 Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ