vanban.org

Bản án 549/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Đức T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 549/2022/HSST
Ngày 20/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Kim Liên

2. Ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 529/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 547/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Chu Đức T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/9/1978. ĐKHKTT: Xóm

L, xã YL, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Sán chí; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Minh H; Con bà Nguyễn Thị D; Vợ là Tạ Thị A, đã ly hôn; Có 02 con; Tiền sự: Không.

- Tiền án: Bản án số 72/2019/HSST ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Chu Đức T 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung 12.000.000 đồng và án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2020.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái

Nguyên (Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn C, sinh năm

1984. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Trú tại: Xóm X, xã L, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng: Anh Trần Thanh T1, sinh năm 1984. Có đơn xin xét

xử vắng mặt

Trú tại: Xóm X, xã L, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến: Ông Chu Quang C1, sinh năm 1960 . Vắng mặt

Trú tại: Xóm 10, xã QT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/7/2022, tại khu vực Nhà nghỉ Nam Giang thuộc

xóm 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên phát hiện thấy một người đàn ông đang ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 20E1 – 369.81 và một người đàn ông đi bộ từ trong nhà nghỉ ra có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông ngồi trên xe mô tô khai họ tên là Trần Thanh T1, còn người đàn ông đi bộ từ trong nhà nghỉ ra khai họ tên là Chu Đức T. Quá trình kiểm tra trên người T1 không phát hiện và thu giữ đồ vật gì, kiểm tra người T phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận là ma túy Heroine, T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của T 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu xanh đen đã qua sử dụng, tạm giữ của T1 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 20E1 – 369.81.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến

hành cân xác định: T bộ số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,227 gam, lấy T bộ đưa vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1188/KL-KTHS ngày 05/8/2022 của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,227 gam.

Tại cơ quan điều tra Chu Đức T khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 28/7/2022,

T rủ anh Trần Thanh T1 là bạn cùng xóm điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20E1 – 369.81 chở xuống thành phố Thái Nguyên để giải quyết công việc cá nhân. Khoảng 10 giờ cùng ngày, sau khi giải quyết công việc xong, T bảo T1 chở đến khu vực nhà nghỉ Nam Giang thuộc xóm 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên mục đích để T mua ma túy sử dụng cho bản thân, Tuy nhiên, T không nói cho T1 biết việc T đi mua ma túy. Đến nơi, T bảo T1 đứng ngoài chờ, còn T đi vào trong nhà nghỉ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói ma túy Heroine được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi quay lại chỗ T1 thì bị tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2. 01 bì niêm phong

ký hiệu B1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen. Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý. 01 xe mô tô biển kiểm soát 20E1 – 369.81, quá trình điều tra xác định là của ông Trần Văn C nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Cân.

Tại bản cáo trạng số 536/CT-VKSNDTPTN, ngày 05/11/2022 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Chu Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Chu Đức T khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận

việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản

1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Chu Đức T từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu

hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen

+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị

cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/7/2022, tại khu vực nhà nghỉ Nam Giang

thuộc xóm 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, Chu Đức T có hành vi tàng trữ 0,227 gam ma túy, loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Chu Đức T

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo chưa có tiền sự, có 01 tiền án từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm gương mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không

có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2

chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng liên lạc với người bán ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 20E1 – 369.81, quá trình điều tra xác định là của ông Trần Văn C, bố đẻ của Trần Thanh T1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông C.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy, Chu Đức T khai mua của một người đàn ông

không rõ lai lịch, địa chỉ ở khu vực nhà nghỉ Nam Giang nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý.

Trong vụ án này có Trần Thanh T1 là người điều khiển xe mô tô biển

kiểm soát 20E1 – 369.81 chở Chu Đức T đến khu vực xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên để T mua ma túy. Quá trình điều tra xác định T1 không biết việc T đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xem xét xử lý đối với T1 là có căn cứ.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1

Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Chu Đức T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu

xanh đen đựng trong bì niêm phong ký hiệu B1

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 86 ngày

11/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho

biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ