vanban.org

Bản án 547/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Đình T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 10/9/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 547/2021/HSST
Ngày 11 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đồng Văn Quân

2. Bà Trần Thanh Vân

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Thư

ký Toà án nhân dân thành phố TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên toà: Bà

Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 559/2021/HSST ngày 19/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 573/2021/QĐXXST-HS ngày 29/10/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình T; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 5 năm 1992, tại TN; nơi đăng ký HKTT: Xóm Đ, xã N, huyện B, tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Đình T1 và bà Nguyễn Thị T2; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

Ông Vũ Q T, sinh năm 1964 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 6 phường V, TP TN, tỉnh TN

Ông Nguyễn Phi L, sinh năm 1961 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 7 phường P, TP TN, tỉnh TN

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 10/9/2021, tổ công tác Công an phường V, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1 của phường thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên Nguyễn Đình T. Quá trình kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái có 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng ( T khai là ma túy hồng phiến và ma túy đá). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu T có khối lượng là 0,177 gam, lấy mẫu gửi giám định ký hiệu T1. Cân toàn bộ số viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu T có khối lượng là 0,097 gam, lấy mẫu gửi giám định ký hiệu T2.

Tại bản Kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 19/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận:

- Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu vật thu giữ ban đầu là: 0,177 gam.

- Mẫu viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu vật thu giữ ban đầu là: 0,097 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình T khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 10/9/2021, T đi taxi từ nhà nghỉ Mỏ Bạch, thuộc phường HVT, thành phố TN đến khu vực Chợ Thái, thuộc phường V để mua ma túy về sử dụng cho bản T. Tại đây, T gặp và mua 01 gói ma túy cùng 01 viên ma túy loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng của người đàn ông không quen biết. Mua xong T cất gói ma túy vào túi quần phía trước nên trái đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường V, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma túy.

Tại bản cáo trạng số 561/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ nguyên bản cáo trạng số 561/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Đình T từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi, 15 giờ 10 phút, ngày 10/9/2021, tại tổ 01 phường V, thành phố TN, Nguyễn Đình T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,274 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản T thì bị tổ công tác Công an phường V, thành phố TN, bắt quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Bản cáo trạng số 561/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn Đình T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân T và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định niêm phong ký hiệu T1, T2.

[5] Về các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Đình T khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực Chợ Thái, phường V, thành phố TN. Quá trình điều tra do không xác định được nhân T, lai lịch của người bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Đình T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 10/9/2021

- Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 hoàn trả vỏ bao mẫu T1 vụ Nguyễn Đình T của Phòng PC09

- 01 bì niêm phong ký hiệu T2 hoàn trả vỏ bao mẫu T2 vụ Nguyễn Đình T của Phòng PC09

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 27 ngày 19/10/2021 giữa Công an thành phố TN và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN)

[3]. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

[4]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh TN

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND TP. TN;

- Công an TP. TN;

- TAND tỉnh TN;

- THADS TP. TN;

- THA hình sự;

- Sở Tư pháp tỉnh TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Lê Quý My

Cỡ chữ