vanban.org

Bản án 546/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H.A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn H.A 33 ( Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 26/7/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 546/2021/HSST
Ngày: 11/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đồng Văn Quân

2. Bà Trần Thanh Vân

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Thư

ký Toà án nhân dân thành phố TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên toà: Ông

Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 565/2021/HSST ngày 19/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2021/QĐXXST-HS ngày 29/10/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn H.A; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 12 năm 1994, tại TN; nơi đăng ký HKTT: Tổ 22, phường P, thành phố TN, tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Thế D và bà Phạm Thị H; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1967 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, phường HVT, TP TN, tỉnh TN

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 35 phút ngày 26/7/2021, tổ công tác của Công an phường HVT, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực sân sau chung cư Tiến Bộ, thuộc tổ 2 của phường đã phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Nguyễn H.A. Qua kiểm tra, A khai nhận đang cất giấy ma túy trên người và tự giác dùng tay trái lấy từ túi quần phía trước bên trái A đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng và có 01 viên nén màu hồng. A khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng “ đá” và “ hồng phiến” cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với A , thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn H.A là 0,404 gam. Lấy mẫu chất tinh thể màu trắng trên cho vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giá m định. Cân xác định khối lượng viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn H.A là 0,098 gam. Lấy toàn bộ viên nén màu hồng trên cho vào bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1212/KL-KTHS ngày 04/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận:

- Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,404 gam.

- Mẫu viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,098 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn H.A khai nhận: Khoảng 11 giờ, ngày 26/7/2021, A đang ở nhà tại tổ 11 phường CH, thành phố TN, thì có 01 nam thanh niên tên Tuyền ( không có tên tuổi, địa chỉ cụ thể) là bạn của A quen biết từ năm 2017, gọi điện rủ A cùng sử dụng ma túy, A đồng ý. Tuyền bảo A đến gặp 01 nữ giới tên Huyền ( không có tên tuổi, địa chỉ cụ thể) là bạn của Tuyền để lấy ma túy, Tuyền đã thanh toán tiền ma túy cho Huyền, Anh chỉ việc lấy về để sử dụng cùng Tuyền. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, A đi một mình, đi xe taxi đến khu vực chung cư Tiến Bộ thuộc phường HVT để gặp Huyền lấy ma túy. Khi đến nơi, A xuống xe đi bộ vào khu vực sân sau chung cư Tiến Bộ. Tại đây A gặp Huyền và được Huyền đưa cho 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy “ đá” và 01 viên ma túy “ Hồng phiến”. Sau đó A cất giấu toàn bộ số ma túy trên vào túi quần bên trái, phía trước đang mặc rồi đi bộ ra bắt xe taxi về để cùng sử dụng cùng với Tuyền. Khi A vừa đi bộ được một đoạn thì bị tổ công tác của Công an phường HVT, thành phố TN bắt quả tang như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 03 bì niêm phong ký hiệu A1, A2, A3 bên trong chứa ma túy.

Tại bản cáo trạng số 564/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn H.A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn H.A khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ nguyên bản cáo trạng số 564/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn H.A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn H.A từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào hồi, 12 giờ 35 phút, ngày 26/7/2021, tại khu vực tổ 02 phường HVT, thành phố TN, Nguyễn H.A có hành vi tàng trữ trái phép 0,502 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công án phường HVT, thành phố TN, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Bản cáo trạng số 564/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn H.A tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định niêm phong ký hiệu A1, A2, A3.

[5] Về các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hơi nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn H.A khai nhận được một người đàn ông tên Tuyền nhờ đi lấy của một người nữ giới tên Huyền tại Khu vực chung cư Tiến Bộ, thuộc tổ 2, phường HVT, thành phố TN về để Anh, Tuyền cùng nhau sử dụng và thuê xe taxi của một người không quen biết để đi lấy ma túy.

Quan hệ giữa H.A với Tuyền là quan hệ quen biết xã hội từ năm 2015, H.A và Tuyền đã cùng nhau sử dụng ma túy khoảng 03 lần. Đối với Huyền là bạn của Tuyền, H.A mới gặp lần này là lần thứ hai, nhưng H.A không biết họ tên đầy đủ, nơi cư trú của Tuyền và Huyền. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H.A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn H.A 33 ( Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 26/7/2021

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[2]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu A1, hoàn trả 0,085 gam mẫu A1 còn lại sau giám định, mặt sau phong bì có 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN có chữ ký của Trương Đăng Tam.

- 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu A2 bên trong chứa 0,219 gam chất tinh thể màu trắng, mặt sau phong bì có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT- Công an thành phố TN có chữ ký của Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Huy Hoàng, Nông Thanh H, Nguyễn Đức C, Nguyễn H.A, Trần Văn Hòe.

- 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu A3, hoàn trả vỏ bao mẫu A3 còn lại sau giám định, mặt sau phong bì có 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN có chữ ký của Trương Đăng Tam.

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16 ngày 12/10/2021 giữa Công an thành phố TN và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN)

[3]. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

[4]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh TN

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND TP. TN;

- Công an TP. TN;

- TAND tỉnh TN;

- THADS TP. TN;

- THA hình sự;

- Sở Tư pháp tỉnh TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Lê Quý My THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quý My

Cỡ chữ