- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức K - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Đức K phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 543/2018/HS-PT Ngày 06-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Bích Ngân và bà Trần Thị Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 528/2018/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Bùi Đức K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2018/HSST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
BÙI ĐỨC K, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ 26, phường T, quận HM, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị M (đã chết); chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; nhân thân: Tháng 8 năm 2010, Công an phường T, quận HM, thành phố Hà Nội đưa đi cai nghiện bắt buộc đến tháng 8 năm 2014. Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2018, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 14/3/2018, Nguyễn Quốc T, trú tại số 11 TL, phố Đ, phường Tr, quận H, thành phố Hà Nội dùng số điện thoại 0947002066 gọi điện đến số điện thoại 01669979326 của Bùi Đức K rủ K đến nhà chơi, K đồng ý và đi xe máy đến nhà T1. Tại đây, T1 đưa cho K 01 túi nilon chứa ma túy đá và bảo K đưa cho 01 nam thanh niên tên Tép (không rõ nhân thân lai lịch là bạn xã hội của T1). K đồng ý và cất giấu vào túi áo phía trước bên phải. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đang ngồi trên xe máy đợi đối tượng tên Tép để giao ma túy tại khu vực đầu ngõ Trại Găng, phố Bạch Mai, phường Thanh Nhàn, quận H, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Thanh Nhàn kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ số ma túy trên.
Kết luận giám định số 1858/KLGĐ-PC54 ngày 21/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,226 gam.
Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 31/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Đức K về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Bùi Đức K từ 30 đến 36 tháng tù.
Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2018/HSST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức K phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt Bùi Đức K 32 (ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/7/2018, bị cáo Bùi Đức K kháng cáo cho rằng mức hình phạt 32 tháng tù đối với bị cáo là quá cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Đức K khai không nhận gói ma túy từ nhà của T1; bị cáo khai: Khi bị cáo chở T1 đến đầu đường Lê Thanh Nghị, trên đường đi T1 đưa cho bị cáo 01 gói nilon và bảo bị cáo mang sang bên kia đường để giao cho đối tượng Tép, bị cáo để gói nilon vào túi áo bên phải, khi bị cáo sang bên kia đường đến đầu ngõ Trại Găng thì bị bắt giữ, hành vi của bị cáo chỉ là tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm cho rằng đơn kháng cáo của bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức. Xét nội dung kháng cáo và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng bị cáo đã khai nhận ngày 14/3/2018 sau khi được T1 nhờ giao ma túy cho đối tượng tên Tép, bị cáo đã cầm gói ma túy để giao cho Tép, trong khi chờ Tép thì bị bắt giữ, theo kết luận giám định, gói ma túy là Methamphetamine, khối lượng 0,226 gam. Hành vi của bị cáo cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, ở cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Khoảng 23 giờ ngày 14/3/2018, Nguyễn Quốc T1 gọi điện rủ Bùi Đức K đến nhà T1 tại số 11 TL, phố Đ, phường Tr, quận H, thành phố Hà Nội chơi, K đi xe máy đến nhà T1. T1 đưa cho K 01 gói Methamphetamine, khối lượng 0,226 gam và bảo K đưa cho 01 nam thanh niên tên Tép ở đầu ngõ Trại Găng. K đồng ý và cất giấu vào túi áo phía trước bên phải. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đang đợi đối tượng tên Tép để giao ma túy tại khu vực đầu ngõ Trại Găng, phố Bạch Mai, phường Thanh Nhàn, quận H, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang.
Như vậy, K đã thực hiện hành vi cất giấu gói ma túy trong người và mang đi giao cho đối tượng tên Tép. Hành vi của bị cáo Bùi Đức K là vận chuyển trái phép chất ma túy, thỏa mãn dấu hiệu của tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Đức K thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Về nhân thân, Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2017 (BL44 đến 50). Áp dụng các điều 53, 70 và 73 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thời hạn xóa án tích là 02 năm tính từ ngày 22/9/2017; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này vào ngày 14/3/2018 nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù.
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức K, giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt Bùi Đức K 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2018.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Đức K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 06/9/2018.
| Nơi nhận: -Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; - Công an quận H; - VKSND quận H; - TAND quận H; - Thi hành án dân sự quận H; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thị Ánh |