vanban.org

Bản án 159/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 28/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức K phạm “ Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bùi Đức K 32 (ba hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/3/2018. * Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 159/2018/HSST Tuyên án 28/06/2018
Phúc thẩm Bản án 543/2018/HS-PT Tuyên án 06/09/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức K - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Đức K phạm “ Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2018/HSST
Ngày 28 tháng 6 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang

2 Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

- Thư ký phiên toà : Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận

Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hương - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2018/ HSST ngày 05 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Đức K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989;Tại: Hà Nội; HKTT và Chỗ ở: Phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Đức L; Con bà: Phạm Thị M ; Tiền án, tiền sự: 01TA + Năm 2016, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 16 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. ra trại ngày 22/9/2017 (chưa xóa án tích). Nhân thân: 01 TS + Năm 2010, Công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bắt đi cai nghiện bắt buộc.

Danh chỉ bản số 160 ngày 19/3/2018 Công an quận Hai Bà Trưng lập; Bắt quả tang ngày 14/03/2018, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 23 giờ, ngày 14/03/2018, Nguyễn Quốc T (sinh năm 1976, trú tại phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) dùng số điện thoại 0947002521 gọi điện đến số của Bùi Đức K là 01669979326 rủ K đến nhà chơi, K đồng ý và đi xe máy đến nhà T. Tại đây, T đưa cho K 01 (một) túi nilon chứa ma túy “đá” và bảo K đưa cho 01 nam thanh niên tên Tép (không rõ nhân thân lai lịch là bạn xã hội của T). K đồng ý và cất giấu vào túi áo phía trước bên phải. Đến khoảng 23giờ30 cùng ngày, khi K đang ngồi trên xe máy đợi “Tép” để giao ma túy tại khu vực đầu ngõ Trại Găng, Phố Bạch Mai, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác công an phường Thanh Nhàn kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ số ma túy trên. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của K: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29E5- 005.84; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Bùi Đức K.

Tại bản kết luận giám định số: 1858/KLGĐ-PC54 ngày 16/05/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,226 gam.

Quá trình điều tra, bị can Bùi Đức K khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với đối tượng T nhờ K đi giao ma túy vào ngày 14/03/2018. Qua điều tra xác minh tên Nguyễn Quốc T (Sinh năm 1975, Trú tại số 11 Tân Lạc, Phố Đại La, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) hiện T không có mặt tại nơi cư trú. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự, tách phần tài liệu liên quan đến Nguyễn Quốc T để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với đối tượng tên Tép là người K giao ma túy cho vào ngày 14/03/2018, do K không quen biết, không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29E1-005.25 thu giữ của K, qua giám định có SK: 5710000037484, SM: 2003730 là số nguyên thủy, kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe tang vật. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định tách tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với chiếc điện thoại Mobiistar thu giữ của K: quá trình điều tra xác định là tài sản riêng của K, không liên quan đến việc vận chuyển trái phép chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số 164/CT-VKSHBT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Đức K về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bùi Đức K về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Bùi Đức K với mức án từ 30 đến 36 tháng tù, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ của bị cáo, trả lại bị cáo 01 điện thoại Mobiistar.

Bị cáo Bùi Đức K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. .

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/3/2018, tại khu vực đầu ngõ Trại Găng, phố Bạch Mai, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Bùi Đức K đã có hành vi vận chuyển trái phép 0,226 gam methamphetamine.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Bùi Đức K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 bị xử phạt 16 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 22/9/2017, chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, vì vậy phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

* Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo điện thoại Mobiistar vì đó là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức K phạm “ Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bùi Đức K 32 (ba hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/3/2018.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy trong đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Bùi Đức K.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar B225 màu đỏ đen, Imei: 352225020494230.

Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

* Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

ThÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

C¸c héi thÈm nh©n d©n

L ¬ng ThÞ Thu Hµ

Cỡ chữ