- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim T bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 541/2022/HS-ST Ngày: 05/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hải Thị Liễu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa
Ông Trần Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 505/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 532/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Kim T (tên gọi khác: V), sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Thuận;
Nơi cư trú (đăng ký HKTT): Thôn Láng Gòn 2, xã X, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Nguyễn Minh P; có 01 con sinh năm 2019 (hiện tại bị cáo đang có thai); tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt khẩn cấp ngày 27/8/2020 đến ngày 04/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa ra Quyết định hủy bỏ tạm giữ. Ngày 12/6/2022, Thoa bị bắt truy nã. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Kim T, Lê Hửu T1 (sinh năm 1998, đăng ký thường trú tại: ấp Tân Hiệp, xã H, huyện N, tỉnh C) và và Lê Nhật Tr (sinh năm 2000, đăng ký thường trú tại ấp 1, xã A, huyện L, tỉnh Đ) quen biết nhau và thường xuyên cùng nhau sử dụng ma túy. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài, từ tháng 6/2020, T1 đã cùng với T và Tr thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Cách thức: Khi cần mua ma túy, người nghiện điện thoại cho T1 theo số thuê bao 0337.526.520, sau đó T một mình hoặc đi cùng Tr đến khu vực Kim Sơn, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mua ma túy của đối tượng tên Th (chưa rõ lai lịch) mang về bán cho người nghiện hoặc người nghiện điện thoại cho T1 hoặc cho T theo số 0968.011.020, T1, T hẹn thời gian, địa điểm giao ma túy và nhận tiền. Hành vi phạm tội cụ thể như sau:
- Khoảng đầu tháng 6/2020 (không rõ ngày), Nguyễn Văn H (sinh năm 2000, cư trú tại khu 4, ấp 8, xã A, huyện L, tỉnh Đ) gặp T1 tại khu công nghiệp Tam Phước thuộc phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và đưa cho T1 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) mua 01 gói ma túy để sử dụng. T1 nhận tiền sau đó đến khu vực bò sữa Long Thành giao cho đối tượng tên Th (chưa rõ lai lịch) số tiền do H đưa và nói Th mang 01 gói ma túy đến khu công nghiệp Tam Phước bán cho H. Sau đó, Th đã mang 01 gói ma túy đến địa điểm trên giao cho H. (Lần bán ma túy này T và Tr không biết T1 bán ma túy cho H)
- Khoảng đầu tháng 8/2020 (không rõ ngày), trong lúc T1 và Tr đang đi chơi chung với nhau thì H tiếp tục gọi điện thoại vào số thuê bao 0337.526.520 của T1 hỏi mua ma túy. T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 60C1-402.18 đến cổng khu công nghiệp Tam Phước nhận 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của H rồi Tình liên hệ mua của Th 01 gói ma túy, với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T1 giao gói ma túy cho Tr cầm trên tay còn T1 điều khiển xe mô tô chở Tr quay lại khu công nghiệp Tam Phước gặp Hnvà Tr trực tiếp giao gói ma túy cho H ( lần bán ma túy này T không biết).
- Vào khoảng gần giữa tháng 8/2020 (khoảng ngày 18/8/2020), Lâm Chí Q (sinh năm 1990, cư trú tại tổ 21, khu phố Tân Mai 2, phường P, thành phố B, tỉnh Đ) điện thoại cho T qua mạng Zalo hỏi mua 01 gói ma túy giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Lúc này, T đang đi chơi cùng T1 tại khu vực khu phố Tân Mai 2, phường Phước Tân, T đang cất giấu 01 gói ma túy trên người (do trước đó T1 cho T để sử dụng). T báo cho T1 biết Q hỏi mua ma túy và nói T1 chở T đi bán ma túy cho Q. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Winner, biển số 60F2-758.26 chở T đến khu vực đường vào sân gôn Long Thành, thuộc phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa và T bán cho Q 01 gói ma túy, với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). T cầm toàn bộ số tiền 300.000đ và đã tiêu xài cá nhân hết.
- Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/8/2020, Q tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua 01 gói ma túy, với giá 500.000đ, T đồng ý. Lúc này T và T1 đang ở phòng số 2, nhà nghỉ Châu Nghĩa thuộc ấp 5, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, T báo cho T1 biết, T1 nói T lấy 01 gói ma túy (do T1 và Tr mua của Th đêm 25/8/2020, giá 300.000đ). Sau đó, T gọi điện vào số thuê bao 0359.075.068 báo cho Tr đến nhà nghỉ Châu Nghĩa gặp T. Sau khi gặp Tr, T cung cấp số điện thoại của Q có số thuê bao 0967.947.435 và giao 01 gói ma túy cho Tr mang đi bán cho Q, với giá 500.000đ rồi mang tiền về giao lại cho T, Tr đồng ý. Đến 11 giờ 20 phút cùng ngày, Tr cất giấu 01 gói ma túy vào trong túi quần bên phải phía trước Tr đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 66B1-320.54 đi đến khu vực thuộc tổ 8, khu phố Miễu, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để bán cho Q nhưng chưa kịp bán thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Đến ngày 27/8/2020, Lê Hửu T1 và Nguyễn Kim T bị bắt khẩn cấp.
Quá trình điều tra, do T đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, ngày 04/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa ra Quyết định hủy bỏ tạm giữ đối với T và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong giai đoạn điều tra, T đã bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa ra Quyết định truy nã. Đến ngày 12/6/2022, Thoa bị Công an phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bắt theo Quyết định truy nã.
Quá trình điều tra, Nguyễn Kim T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Ngày 20/12/2021, Lê Hửu T1 và Lê Nhật Tr đã bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon ma túy, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước Lê Nhật Tr đang mặc đã được giải quyết tại Bản án số 546/2021/HS-ST ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imel 1: 866056041596730, số imel 2: 866056041596722, số thuê bao 0337.526.520 của Lê Hửu Tình; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus số imel 357000064594327, số thuê bao 0968.011.020 của Nguyễn Kim Thoa; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, số imel 353051064870195, số thuê bao 0359.075.068 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc trắng, số imel 013852007800393, số thuê bao 0904.903.882 của Lê Nhật Tr sử dụng vào việc lạc cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy đã được giải quyết tại Bản án số 546/2021/HS-ST ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-320.54 thu giữ của Lê Nhật Tr. Lê Hữu T1 khai mượn của bạn tên Tr (không rõ lai lịch), sau đó T1 giao cho Lê Nhật Tr làm phương tiện đi bán ma túy. Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai thì xe mô tô biển số 66B1-320.54 do chị Nguyễn Thị Kim L (sinh năm 1978, cư trú tại 795, Tân Định, Tân Hòa, Thanh Bình, Đồng Tháp) đứng tên chủ sở hữu. Chị L khai, đầu năm 2018, chị Loan đã bán chiếc xe mô tô trên cho người thanh niên làm nghề sửa xe tại xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nhưng không làm thủ tục mua bán. Do chưa làm rõ nguồn gốc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Khám xét nơi ở của T1 và T tại phòng số 2-Nhà nghỉ Châu Nghĩa thuộc ấp 5, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thu giữ 20 (hai mươi) gói ma túy, có khối lượng 4,698 gam, loại: Methamphetamine trong chiếc loa để trong phòng số 2. T1 khai chiếc loa do người phụ nữ tên A (B- chưa rõ lai lịch) gửi T1, T. T1 không thừa nhận đã cất giấu số ma túy trên mà chỉ thừa nhận đêm 25/8/2020 đã cùng Tr mua 01 (một) gói ma túy giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) của Th, sau đó đã giao cho Tr đi bán ngày 26/8/2020. Ban đầu T1 khai số ma túy trên do T1 và Trmua tối 25/8/2020 và lấy ra một phần sử dụng, phần còn lại cất giấu trong loa. Sau đó, T thay đổi lời khai không nhìn thấy T1 cất giấu ma túy trong loa và không biết 20 gói ma túy của ai. Tr khai, tối ngày 25/8/2020 có đi mua ma túy cùng T1 nhưng khi đến gần địa điểm mua ma túy thì Tr ở ngoài còn T1 trực tiếp gặp Th mua ma túy. Sau đó, T1 không nói cho Tr biết số lượng ma túy đã mua. Kết quả điều tra, chưa đủ cơ sở chứng minh 20 gói ma túy nêu trên là do T1 và Tr mua cất giấu trong loa nên Cơ quan điều tra tách ra chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để điều tra theo thẩm quyền.
*Tại Kết luận giám định số 2053/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận:
“ Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4698 gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 503/CT-VKSBH ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Kim T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã nêu trên.
Do đó đề nghị: áp dụng b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T: từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
Buộc bị cáo Thoa nộp lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng tên Th (Chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho T1, H Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh:
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Kim T là đối tượng sử dụng ma túy. Để có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài, T cùng Nguyễn Hửu T1 và Lê Nhật Tr đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện. T đã 02 lần bán ma túy cho Lâm Chí Q, cụ thể: Khoảng giữa tháng 8/2020, Q đã liên lạc với T mua 01 gói ma túy với giá 300.000đ, T đã báo cho T1 biết và T1 đã điều khiển xe mô tô chở T đi bán 01 gói ma túy cho Q với giá 300.000đ. Số tiền này T đã tiêu xài hết. Đến ngày 26/8/2020, Q tiếp tục liên lạc với T hỏi mua ma túy, T báo cho T1 biết. T1 đã nói T lấy 01 gói ma túy mà T1 và Tr đã mua trước đó để bán. T đã lấy 01 gói ma túy và gọi điện thoại cho Tr đến gặp T lấy ma túy đi bán cho Q. Khi Tr đưa ma túy đến khu vực tổ 8, khu phố Miễu, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa để bán cho Q nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện bắt giữ.
Theo Kết luận giám định số 2053/KLGĐ- PC09 ngày 01/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận:
“Mẫu chất màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4698 gam, loại Methamphetamine.
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Kim T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 503/CT-VKSBH ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Kim T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội và vai của của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Nhà nước quản lý độc quyền về các chất ma túy, bản thân bị cáo cũng là người sử dụng ma túy nên ý thức được tác hại nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tệ nạn xã hội khác như mại dâm, HIV. Do đó, cần áp dụng mức án nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Trong vụ án này, T tham gia với vai trò giúp sức tích cực. Do đó, cần có mức án nghiêm phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo gây ra.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: không có
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bản thân bị cáo có 01 con nhỏ và hiện đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vật chứng vụ án đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 546/2021/HS-ST ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các vấn đề khác:
Hành vi của Lê Hửu T1 và Lê Nhật Tr đã được xử lý tại tại Bản án hình sự sơ thẩm số 546/2021/HS-ST ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đối với đối tượng tên Th (Chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho T1, H Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-320.54, do chưa làm rõ nguồn gốc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với 20 (hai mươi) gói ma túy thu giữ được trong chiếc loa tại phòng số 2, nhà nghỉ Châu Ngĩa, ấp 5, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, có khối lượng 4,698 gam, loại: Methamphetamine. Cơ quan điều tra tách ra chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Kim T: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ 12/6/2022, nhưng được trừ đi thời gian giam giữ từ ngày 27/8/2020 đến ngày 04/9/2020.
2. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Kim T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Kim T nộp lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Kim T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ Công an TP.Biên Hòa; - Lưu hồ sơ, văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN - | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hải Thị Liễu ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |