vanban.org

Bản án 540/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của Bà V.T.H.V Ghi nhận sự tự nguy n của bà H.B.T và ng Đ V C.

Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T là đại di n cùng ng Đ V C trả cho Bà V.T.H.V số tiền 25.000.000 đ (Hai mươi lăm tri u đồng) ngay khi bản án c hi u lực pháp luật. Kể từ ngày bản án c hi u lực pháp luật, người được thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án kh ng thi hành thì hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng gửi giữ"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần yêu cầu của Bà V.T.H.V Ghi nhận sự tự nguy n của bà H.B.T và ng Đ V C.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 540/2019/DSST
Ngày: 25/9/2019
V/v Tranh chấp hợp đồng gửi giữ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Đẹp

2. Ông Phạm Văn Chính

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Kim Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n H c M n tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 37/2019/TLST-DS ngày 09/01/2019 về vi c “Tranh chấp Bồi thường thi t hại về tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2019/ Đ T-D ngày 05/8/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 68/2019/ Đ T-D ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà V.T.H.V, sinh năm 1981

Địa chỉ: 91/4A ấp Dân Thắng 2, xã Tân Thới Nhì, huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh

- Bị đơn: Hộ kinh doanh Qu

Địa chỉ: 58 Đ V D, ấp T. H, xã T H, huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh.

Họ và tên đại di n hộ kinh doanh: Bà H.B.T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: 47/29/43 T. Q. T, P 8, uận 3, TP. Hồ Ch Minh.

Người đại di n hợp pháp của bị đơn : Ông Đ V C, sinh năm 1974

Địa chỉ: 47/29/43 T. Q. T, P 8, uận 3, Tp HCM, là người đại di n theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 02/4/2019 Ông C đồng thời là người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan

- Người làm chứng: Ông V.V.L, sinh năm 1962.

Địa chỉ: 356 T K T Q, phường K, uận Tân Phú, Thành phố Hồ Ch Minh

Các đương sự c mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa Án nhân dân huyện Hóc Môn bà V trình bày:

Ngày 06/10/2018, bà V c đến quán ake ố 58 58 Đ V D, ấp T. H, xã T H, huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh để hát và c gửi xe Honda biển số 62M1-27991 cho bảo v quán và được ghi vé giữ xe là 27981 Khi ra lấy xe để ra về thì bà V phát hi n đã bị mất xe

au nhiều lần thương lượng với chủ quán là bà T để yêu cầu bồi thường thi t hại nhưng kh ng thành do đ bà V khởi ki n Hộ kinh doanh Quán do bà H.B.T là đại di n phải bồi thường thi t hại số tiền mất xe theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự ngày 14/12/2018 là 25 000 000 đồng và các khoản thi t hại như chi phí đi lại do kh ng c phương ti n đi làm lo cho các con tổng cộng là 52 500 000 đồng

Tại Tòa bà V yêu cầu bồi thường như sau:

Bà V yêu cầu Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T làm đại di n phải bồi thường thi t hại số tiền mất xe theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự ngày 14/12/2018 là 25 000 000 đồng và bồi thường chi ph thuê xe để đi làm, đưa đ n con đi học những ngày bị mất xe là 27 500 000 đồng số tiền là 27 500 000 đồng gồm tiền thuê tháng đầu tiên là 6 000 000 đồng, tiền thuê xe từ tháng tháng 12/2018 đến tháng 9/2019 là 10 tháng x 2 000 000 đồng là 20 000 000 đồng, tiền cọc thuê xe là 2 000 000 đồng Tổng cộng 28 000 000 đồng, nhưng bà V làm tròn là 27 500 000 đồng như yêu cầu khởi ki n Bà giải th ch vi c khởi ki n đưa ra giá tiền 27 500 000 đồng vì lý do thái độ kh ng hợp tác của bà T.

Bà V đề nghị Tòa án đưa ông V.V.L là chủ xe Honda Lead biển số 59B2 – 66901 đồng thời cũng là người ký hợp đồng thuê xe với bà V tham gia tố tụng làm chứng cho vi c bà V c thuê xe gắn máy đi làm sau khi bị mất xe

Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bà Hòang Bích Thủy trình bày:

Bà kinh doanh quán ake hình thức kinh doanh là hộ gia đình Bà c chồng là ng Đ V C. Ngày 06/10/2018, bà V c đến quán gửi xe, bảo v quán là người viết vé giữ xe gắn máy biển số 27981, tuy nhiên do sơ suất nên đã làm mất xe của bà V. Nay bà đồng ý trả tiền bồi thường xe cho bà V nhưng gia đình còn kh khăn nên bà xin được thương lượng thêm Bà kh ng đồng ý trả số tiền 52 500 000 đồng, Bà chỉ đồng ý trả số tiền giá trị xe theo biên bản định g a của cơ quan C ng An huy n Hóc Môn. Bà và chồng bà tự nguy n về vi c bồi thường kh ng c yêu cầu gì đối với bảo v đã viết vé giữ xe gắn máy

Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải ông Đ.V.C trình bày:

Ông C thống nhất với toàn bộ ý kiến của vợ ông là bà T ng đồng ý trả tiền trả số tiền giá trị xe theo biên bản định g a của cơ quan C ng An huy n H c M n cho bà V kh ng đồng ý bồi thường các khoản như bà V nêu tổng 52 500 000 đồng Ông kh ng c yêu cầu gì đối với bảo v đã viết vé giữ xe gắn máy

Tại phiên tòa ông Đ.V.C trình bày:

Bà T và ng đồng ý bồi thường số tiền mất xe theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự ngày 14/12/2018 là 25 000 000 đồng Về số tiền 27 500 000 đồng bà V yêu cầu, bà T và ng kh ng đồng ý Ông và bà chỉ Thủy đồng ý trả số tiền bồi thường theo phán quyết của Tòa án

Người làm chứng ông Lý trình bày:

Ông là người kinh doanh xe cho thuê, ng c cho mọi người thuê xe theo ngày với giá 200 000 đồng/ngày Cuối tháng 10/2018 ông có cho bà V thuê xe Honda Lead biển số 59B2 – 66901, là xe cũ, với giá thuê tháng đầu tiên tháng 11/2018 là 6 000 000 đồng, sau đ do thấy bà V kh khăn nên giảm giá thuê còn lại mỗi tháng từ tháng 12/2018 cho đến nay là 2 000 000 đồng, bà V đ ng tiền thế chân 2 000 000 đồng tiền cọc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

Thẩm phán được phân c ng thụ lý giải quyết vụ án đã thực hi n đúng quy định của BLTTD 2015 về thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác minh, thu thập chứng cứ, về thủ tục hòa giải, về thời gian gửi hồ sơ đến Vi n kiểm sát, về thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng

Về xác định tư cách tham gia tố tụng: tại phiên tòa bà V xác định lại bà khởi ki n Hộ kinh doanh akê quán do bà H.B.T làm đại di n

Về xác định quan h tranh chấp: giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập hợp đồng gửi giữ xe c ghi thẻ xe, tranh chấp phát sinh do xe bị mất Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường xe và chi ph đi lại từ lúc xe bị mất đến nay Do đ , cần xác định đây là tranh chấp hợp đồng gửi giữ.

Thẩm phán chưa thực hi n đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, cụ thể: Vụ án được thụ lý vào ngày 05/12/2018 nhưng đến ngày 05/8/2019, Tòa án mới đưa vụ án ra xét xử

1. Xét yêu cầu bồi thường thi t hại xe 25.000.000 đồng của bà V:

Theo Kết luận định giá tài sản số 252/2018 ngày 14/12/2018 của Phòng tài chính – Kế hoạch UBND huy n H c M n: xe máy hi u Honda, loại xe Lead BS: 62M1-27991 có giá 25.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại di n bị đơn đồng ý bồi thường thi t hại xe cho nguyên đơn theo kết luận định giá là 25.000.000 đồng Ghi nhận ý kiến của nguyên đơn

2. Xét yêu cầu bồi thường chi ph đi lại 27 500 000 đồng:

Theo đơn khởi ki n ngày 20/12/2018, bà V yêu cầu bồi thường tổng thi t hại là 52 500 000 đồng Tại phiên tòa, bà xác định khi làm đơn khởi ki n bà đòi bồi thường xe là 25.000.000 đồng và chi ph đi lại từ khi mất xe là 27 500 000 đồng Bà V xác định thời điểm bà ký hợp đồng thuê xe là sau ngày mất xe 04 ngày và khẳng định là ngày 30/10/2018 Tuy nhiên, theo tài li u Cơ quan điều tra C ng an huy n H c M n cung cấp thì ngày xảy ra vi c mất xe là ngày 06/10/2018 Mặt khác, hợp đồng thuê xe bà V cung cấp cho Tòa án lại được ký vào ngày 30/11/2018 Hợp đồng thuê xe từ ngày 30/11/2018, ngày 20/12/2018, bà V làm đơn khởi ki n yêu cầu bồi thường chi ph đi lại 27 500 000 đồng Tại phiên tòa, bà V khai rằng, trong thời gian mất xe, bà phải thuê Grab đi lại, phải thuê hàng x m đưa đ n con đi học, do nhận thấy bị đơn kh ng c thi n ch bồi thường thi t hại nên bà phải thuê xe đi làm Khi làm đơn khởi ki n bà cộng tất cả các chi ph trên là 27 500 000 đồng

Tại phiên tòa, bà V yêu cầu được bồi thường số tiền 27 500 000 đồng, cụ thể: bà thuê xe tháng đầu tiên (thuê từ ngày 30/10/2019): 6.000.000 đồng, đặt cọc 2.000.000 đồng, từ tháng 12/2018 đến nay, bà thuê xe với giá thuê 2.000.000 tri u đồng/tháng, 10 tháng là 20 tri u đồng Tổng cộng là 28 tri u đồng, bà chỉ yêu cầu bồi thường 27 500 000 đồng

Nhận thấy, lời trình bày của bà V c nhiều mâu thuẩn Do đ , hợp đồng thuê xe do bà V cung cấp không c giá trị chứng minh thi t hại thực tế là 27 500 000 đồng nên kh ng c cơ sở chấp nhận

Bởi các lẽ trên, căn cứ Điều 554, 556, 557 BLD 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu bồi thường thi t hại xe của nguyên đơn; kh ng chấp nhận yêu cầu bồi thường chi ph đi lại

uá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải cho các bên đương sự thỏa thuận với nhau về vi c giải quyết vụ án nhưng kh ng thành nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xem xét quyết định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài li u chứng cứ c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn trong vụ án là Hộ kinh doanh Q địa chỉ 58 58 Đ V. D, ấp T. H, xã T H, huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh, căn cứ theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huy n H c M n, thành phố Hồ Ch Minh

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp l các văn bản tố tụng và c mặt tham gia phiên tòa theo đúng quy định.

Nguyên đơn yêu cầu đưa người làm chứng là ông V.V.L tham gia tố tụng, bị đơn kh ng c ý kiến xét thấy yêu cầu này là hợp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn, bị đơn kh ng yêu cầu đối với bảo v viết vé giữ xe và bị đơn tự nguy n trả tiền bồi thường giá trị chiếc xe bị mất, kh ng c yêu cầu do đ Hội đồng xét xử kh ng xem xét

Về quan h tranh chấp: Tòa án nhân dân huy n H c M n đã tiến hành thụ lý vụ án với quan h tranh chấp là “Yêu cầu bồi thường thi t hại về tài sản”. Tuy nhiên căn cứ vé giữ xe gắn máy, lời khai của nguyên đơn và bị đơn cùng người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xác định vi c tranh chấp giữa Bà V.T.H.V và bà H.B.T là “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ” theo quy định tại Điều 554 Bộ luật dân sự 2015.

Về nội dung vụ án:

Bà V yêu cầu Hộ kinh doanh Q do bà H.B.T làm đại di n bồi thường thi t hại số tiền mất xe theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự ngày 14/12/2018 là 25 000 000 đồng.

Bà T xác định kinh doanh quán hình thức kinh doanh là hộ gia đình, bà T là người đại di n hộ kinh doanh. Ngày 06/10/2018 bà V c đến quán gửi xe, bảo v quán là người viết vé giữ xe gắn máy biển số 27981, tuy nhiên trong quá trình sơ suất nên đã làm mất xe của bà V. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự vi c bà V giao xe cho Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T làm đại di n giữ là c thực

Quá trình giải quyết vụ án và tại Tòa, bà T, ông C đều đồng ý bồi thường số tiền theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự ngày 14/12/2018 là 25 000 000 đồng, do đ Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguy n của bà T và ng Cường là chồng bà T.

Về yêu cầu buộc Hộ kinh doanh Q do bà H.B.T làm đại di n bồi thường số tiền 27 500 000 đồng là tiền chi ph thuê xe gắn máy để đi lại đưa đ n con gồm tiền thuê xe tháng đầu tiên tháng 11/2018 là 6 000 000 đồng, tiền thuê xe từ tháng 12/2018 đến tháng 9/2019 là 10 tháng x 2 000 000 đồng là 20 000 000 đồng, tiền cọc thuê xe là 2 000 000 đồng Tổng cộng 28 000 000 đồng, bà V làm tròn thành 27 500 000 đồng như yêu cầu trong đơn khởi ki n Bà T, ng Cường kh ng đồng ý với yêu cầu này và chỉ đồng ý bồi thường theo phán quyết của Tòa Án

Xét bà V khởi ki n ngày 20/12/2018 và tự dự định khoản bồi thường là 27 500 000 đồng nhưng kh ng c chứng từ gì thể hi n số tiền sẽ thuê xe vào tương lai là 27 500 000 đồng, bà V nêu tự đưa ra chi ph bồi thường dựa vào thái độ của nguyên đơn.

Hợp đồng thuê xe thuể hi n bà V thuê xe ngày 30/11/2018 nhưng các lời khai cùa bà V và ng Lý về số tiền thuê và thời gian thuê là từ đầu tháng 11/2018 thuê số tiền 6 000 000 đồng/tháng từ tháng 12/2018-9/2019 là 10 tháng x 2 000 000 đồng là 20 000 000 đồng, tiền cọc thuê xe là 2 000 000 đồng Thời gian ký hợp đồng thuê xe và lời khai của bà V, ng Lý c sự mâu thuẫn

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử kh ng chấp nhận yêu cầu buộc buộc Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T làm đại di n bồi thường số tiền 27 500 000 đồng là chi ph thuê xe gắn máy để đi làm những tháng bị mất xe của nguyên đơn

Về án ph dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án ph dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu kh ng được Tòa án chấp nhận Bị đơn phải chịu án ph dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận Theo quy định tại khoản 4, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án;

Vì các l trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a,b khoản 1 Điều 39; Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 554, 556, 557, 559 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của Bà V.T.H.V Ghi nhận sự tự nguy n của bà H.B.T và ng Đ V C.

Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T là đại di n cùng ng Đ V C trả cho Bà V.T.H.V số tiền 25.000.000 đ (Hai mươi lăm tri u đồng) ngay khi bản án c hi u lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án c hi u lực pháp luật, người được thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án kh ng thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án

[2] Không chấp nhận phần yêu cầu của Bà V.T.H.V: Yêu cầu Hộ kinh doanh Sake Quán do bà H.B.T là đại di n bồi thường chi ph thuê xe để đi làm, đưa đ n con đi học những ngày bị mất xe là 27 500 000 đồng (Hai mươi bảy tri u năm trăm nghìn đồng)

[3] Án ph dân sự sơ thẩm:

Bà V phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu kh ng được chấp nhận là: 1.375.000đ (Một tri u ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Được t nh cấn trừ vào số tiền tạm ứng án ph đã nộp là 1.312.500đ (Một tri u ba trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số AA/2018/0003321 ngày 09/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huy n H c M n Bà V phải nộp thêm số tiến là: 62.500 đồng

Hộ kinh doanh ake uán do bà H.B.T là đại di n cùng ng Đ V C phải chịu số tiền án ph là 1 250 000 đ (Một tri u hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự c thẩm quyền

[3] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án.

[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ