vanban.org

Bản án 54

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma túy’’.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Tuấn A 34 (Ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2025, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Tuấn A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma túy’’.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 30/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Phan Anh

- Bà Dương Tú Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thẩm tra viên chính

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hoàng - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 205/2025/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXX-HSST ngày 07 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tuấn A, sinh năm 1989; giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: P501 A3 Tập thể H, phường Đ, thành phố Hà Nội (Cũ là P501 A3 Tập thể H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội); Nơi cư trú: Không nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Minh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim X (đã chết). Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là chị Phạm Thị Kim L. Có 02 con. Con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Bản án số 397/2007/HSST ngày 15,16/11/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2009 (đã xóa án tích). Bản án số 87/2012/HSST ngày 30/3/2012, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/06/2014 (đã xóa án tích); D chỉ bản số 482, lập ngày 07/4/2025, tại: Trại tạm giam số 1 thuộc Công an thành phố H.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 28/3/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 28/3/2025, tại khu vực đầu ngách E ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (hiện nay là Ngách E ngõ L, phường V - Q, Thành phố Hà Nội), Tổ công tác Công an phường V (hiện nay là Công an phường V) phát hiện Lê Tuấn A có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Lê Tuấn A có 01 (một) túi nilông màu trắng, kích thước (2x2)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Tuấn A khai nhận số tinh thể màu trắng trên là ma tuý “đá” đang mang đi bán để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa Tuấn A về trụ sở Công an phường V (hiện nay là Công an phường V – Q) để làm việc.

Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, ngoài số ma túy đã thu giữ nêu trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ những đồ vật, tài sản của Lê Tuấn A, gồm: 01 điện thoại di động Redmi, màu trắng, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 2013/KL-KTHS ngày 06/4/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

“-Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,402 gram”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Tuấn A đã khai nhận về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ như sau:

Ngày 27/3/2024, Lê Tuấn A mua 01 gói ma túy “đá” với giá 500.000 đồng của một người không quen biết tại đầu phố M, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (hiện nay là phố M, phường Ô, Thành phố Hà Nội) với mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán để kiếm lời. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/3/2025, Tuấn A đang đi lang thang tại khu vực bãi gửi xe 89 L, có đối tượng sử dụng tài khoản Telegram có tên là "Nguyễn C" nhắn tin đến tài khoản “Ba Bích” cho Tuấn A hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy “đá”. Tuấn A đồng ý và thỏa thuận hẹn giao ma túy tại số E ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (hiện nay là Số E ngõ L, phường V - Q, Thành phố Hà Nội). Sau đó, Tuấn A cầm ma tuý “đá” có sẵn ở trong nhà vào trong lòng bàn tay phải rồi bắt xe ôm công nghệ mang đi giao cho khách. Khi Tuấn A đi đến đầu ngõ L thì xuống xe đi bộ đến đầu ngách E ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (hiện nay là ngách E ngõ L, phường V - Q, Thành phố Hà Nội) để chờ người mua ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ số ma túy như đã nêu trên.

Đối với người bán ma túy cho Tuấn A: Lê Tuấn A khai không biết thông tin gì về người này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được nhân thân để xử lý.

Đối với đối tượng mua ma túy của Tuấn A: Lê Tuấn A khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, chỉ biết người này sử dụng tài khoản Telegram “Nguyễn C”. Xác minh tại Cục P, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ T1, kết quả không xác định được thông tin chủ tài khoản Telegram "Nguyễn Công". Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý đối với người đã mua ma túy của Tuấn A.

Cáo trạng số 207/CT-VKSĐĐ ngày 26/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa (hiện nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội) đã truy tố Lê Tuấn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Tuấn A mức án từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy. Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Redmi, màu trắng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lê Tuấn A đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an khu vực B – Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Tuấn A khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội của mình. Do đó đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 28/3/2025, tại khu vực đầu ngách E ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (Hiện nay là Ngách E ngõ L, phường V - Q, Thành phố Hà Nội) Tổ công tác của Công an phường V (hiện nay là Công an phường V) phát hiện bắt quả tang Lê Tuấn A đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,402 gram ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh trên quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy và những hình thức xử lý nghiêm khắc của pháp luật đối với mọi hành vi liên quan trái phép đến loại độc dược này song bị cáo vẫn cố tình thực hiện dưới hình thức mua bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo là tiếp tay cho các tệ nạn xã hội phát triển. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét nhân thân của bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp:

- Ma túy là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

- Tài sản sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma túy’’.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lê Tuấn A 34 (Ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2025, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án,

2. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Tuấn A.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Redmi, màu trắng, số IMEI: 869839056168108100 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lê Tuấn A. Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại cơ quan điều tra công an thành phố H.

3. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ