vanban.org

Bản án 54

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng Thị V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu hủy 0,09 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định, các mảnh giấy bạc màu trắng cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn. Trên một mặt c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Thị V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN BÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
B¶n ¸n sè: 54/2023/ HSST
Ngµy 22 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN – TỈNH LÀO CAI

Tại điểm cầu trung tâm thuộc tru sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

ThÈm ph¸n- chñ täa phiªn toµ: Bà Đỗ Thị Lựa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lê Duy Bình.

2, Vàng A Xà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Ngọc Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V¨n Bµn tham gia phiªn toµ: Ông Nguyễn Thanh Xuân- KiÓm s¸t viªn.

Tại điểm cầu thuộc nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, thành phần gồm:

Bị cáo Vàng Thị V, sinh ngày 01/01/1975.

Người bào chữa cho bị cáo là: Bà Lương Thị Chyến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Sùng A Kh.

Người làm chứng: Chị Giàng Thị Say, sinh năm 1994; Anh Giàng A Ch, sinh năm 1990.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Thị V, sinh ngày 01/01/1975. Nơi sinh huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn HD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vàng A Lầu (đã chết, con bà Phà Thị Lìa, sinh năm 1929, Chỗ ở: Thôn HD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C. Bị cáo có chồng là ông Vù A Trùng, sinh năm 1974 (đã chết) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013. Hiện đều trú tại thôn HD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo là bà Lương Thị Chyến, sinh năm 1991 là trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Sùng A Kh, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Thôn KhD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Chị Giàng Thị S, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn HD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C.

+ Anh Giàng A Ch, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn KhD, xã NCh, huyện VB, tỉnh L C. Người chứng kiến đều vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 00 phút, ngày 20/6/2023, Công an xã Nậm Chày, huyện Văn Bàn tiến hành tuần tra tại thôn Khâm Dưới, xã Nậm Chày, huyện Văn Bàn phát hiện Vàng Thị V đang đứng ở ven đường có biểu hiện phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu Vàng Thị V có hành vi vi phạm pháp luật thì tự giác khai báo, Vàng Thị V khai nhận đang tàng trữ ma túy trên người. Tổ công tác đã mời Vàng Thị V và mời người chứng kiến đến trụ sở công an xã Nậm Chày để kiểm tra, tại đây V tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy trắng có chữ bên trong có 06 gói nilon màu xanh, các gói đều được buộc túm bằng chỉ màu xanh, bên trong đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận là ma túy của V mua hộ cho một người đàn ông không quen biết để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét chỗ ở của Vàng Thị V không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 230/KL-GĐMT ngày 23/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh lào cai, kết luận: 0,13 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Vàng Thị V là ma túy Heroine.

Quá trình điều tra Vàng Thị V khai: Khoảng 20 giờ ngày 20/6/2023 Vàng Thị V gặp một người đàn ông không quen biết ở đường đi gần nhà V, người đàn ông đưa cho V 300.000 đồng nhờ đi mua hộ ma túy về để cùng nhau sử dụng, V cầm tiền và đi đến nhà Sùng A Kh – sinh năm 1965 ở thôn Khâm Dưới, xã Nậm Chày, huyện Văn Bàn nhờ Kh mua hộ ma túy, Kh đồng ý cầm tiền đi mua hộ cho V, sau đó Kh đưa cho V 01 gói giấy trắng có chữ bên trong có 06 gói ma túy, V cầm ma túy đang trên đường về thì bị công an kiểm tra và bắt quả tang.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Vàng Thị V ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Vàng Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt phần trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vàng Thị V, đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị V từ 01 năm đến 01năm 03 tháng tù. Không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị V 01năm tù. Không phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do nghiện chất ma túy, khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 20/6/2023 bị cáo Vàng Thị V đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,13 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, khi bị cáo đang vận Chyển gói ma túy mới mua được trên đường thuộc địa phận thôn Khâm Dưới, xã Nậm Chày thì bị bắt quả tang. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 20/6/2023, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,13 gam Heroine. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đã truy tố bị cáo Vàng Thị V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là người mẹ có sức khỏe nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà đua đòi, nghiện chất ma túy nên ngày 20/6/2023 bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,13 gam Heroine, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Thị V không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Gia đình Vàng Thị V thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không có tài sản riêng. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sư để thể hiện tính Khn hồng của pháp luật.

Đối với nội dung bị cáo Vàng Thị V khai Sùng A Kh là người đi mua hộ ma túy cho V. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, đối chất nhưng Sùng A Kh không thừa nhận đã mua hộ ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với người đàn ông Vàng Thị V khai đã đưa 300.000 đồng nhờ V đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Về vật chứng: 0,13 gam Heroine, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,04 gam là có căn cứ. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với 0,09 gam Heroine và mảnh giấy trắng có chữ, các mảnh nilon màu xanh, các sợi chỉ màu xanh cùng toàn bộ niêm phong cũ đã tái niêm phong còn lại cần tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vàng Thị V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị V 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/6/2023 .

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu để tiêu hủy 0,09 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định, các mảnh giấy bạc màu trắng cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn. Trên một mặt của bì thư có ghi: “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang của Vàng Thị V ngày 20/6/2023 tại xã Nậm Chày, huyện Văn Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì có các chữ ký và dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai (chi tiết các vật chứng nêu trên như tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 29/8/2023).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vàng Thị V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ