vanban.org

Bản án 54/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Công T (Căn cước công dân số 020093007476, Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 08-7-2024) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Công T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15 tháng 01 năm 2026. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Công T - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Công T (Căn cước công dân số 020093007476, Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 08-7-2024) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2026/HS-ST
Ngày 28-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Thanh;

Bà Hoàng Thị Bích Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Mai Hương - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Âu Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2026, Toà án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm phòng xét xử số 01 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn gồm Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký viên, cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Hữu Lũng, Công an tỉnh Lạng Sơn gồm bị cáo, Thư ký viên, Kiểm sát viên, cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Hoàng Công T, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1993 tại xã B, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 020093007476, Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 08-7-2024. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường N, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công P và bà Dương Thị Đ; có vợ Hoàng Thị V và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án: Tại Bản án số 16/2014/HSST ngày 27-5-2014 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28-01-2019); Bản án số 15/2020/HS-ST ngày 01-7-2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-9-2021; chưa thi hành khoản tiền bồi thường dân sự); Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 22-3-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (đã chấp hành xong ngày 19-4-2024); tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Hữu Lũng, Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng từ ngày 15-01-2026 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 35 phút ngày 15-01-2026, do có nhu cầu sử dụng ma túy Hoàng Công T đi bộ một mình từ phòng trọ tại phường N, tỉnh Bắc Ninh ra Quốc lộ A đón xe ô tô khách đi đến khu vực ngã tư K thuộc địa phận xã K, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Hoàng Công T xuống xe đến một quán nước ven đường bên phải hướng Lạng Sơn - Hà Nội ngồi. Tại đây, Hoàng Công T gặp một người nam thanh niên không quen biết hỏi mua ma túy và đưa cho người này 400.000 đồng, người thanh niên đưa cho Hoàng Công T 04 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy heroin. Sau đó, Hoàng Công T đi mua 02 xi lanh (không nhớ cửa hàng cụ thể) rồi đến khu vực vắng người (không nhớ địa điểm) sử dụng hết 01 ống nhựa chứa ma túy bằng hình thức chích, sử dụng xong Hoàng Công T vứt luôn xi lanh đã sử dụng tại đó. Còn lại 03 ống ma túy, Hoàng Công T gói trong mảnh giấy bạc rồi cất trong túi quần bên phải. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Hoàng Công T đang trên đường về nhà ở thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn, khi đi đến thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật, gồm: 01 gói giấy bạc bọc 02 đoạn ống nhựa màu cam, 01 đoạn ống nhựa màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xi lanh gắn kim tiêm chưa qua sử dụng. Khám xét chỗ ở của Hoàng Công T không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu có liên quan.

Ngày 15-01-2026, Công an xã Tuấn Sơn tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Hoàng Công T dương tính với chất ma túy Heroin.

Kết luận giám định số: 279/KL-KTHS ngày 16-01-2026 của Phòng Kỹ thuận hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1201 gam là ma túy Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetymorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số: 357/KL-KTHS ngày 25-3-2026 của Phòng Kỹ thuận hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Dấu vân tay các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 với dấu vân tay trên danh, chỉ bản mẫu so sánh ký hiệu M là dấu vân tay của cùng một người.

Vật chứng chưa xử lý: 0,0746 gam chất ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 xi lanh của bị cáo Hoàng Công T.

Cáo trạng số: 08/CT-VKSLSN-KV ngày 20 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Công T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Công T khai nhận bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, không oan sai. Đối với vật chứng đang bị tạm giữ bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về hành vi phạm tội đối với bị cáo, sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Tuyên bị cáo Hoàng Công T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự; đề nghị xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Công T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,0746 gam chất ma túy Heroine (mẫu vật còn lại sau giám định) và 01 xi lanh của bị cáo Hoàng Công T, được niêm phong dán kín trong 02 phong bì thư.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Hoàng Công T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Hoàng Công T đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 (ba) ống ma túy heroin có tổng khối lượng 0,1201 gam (đã trừ bì). Nguồn gốc số ma túy Hoàng Công T mua với một người thanh niên không quen biết ở ngã tư K, xã K, tỉnh Bắc Ninh với mục đích để sử dụng.

Tình tiết định khung: Bị cáo Hoàng Công T đã có 03 tiền án (01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và 02 tiền án cùng về tội Trộm cắp tài sản như đã nêu tại phần đầu Bản án). Trong đó, Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 22-3-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản và đã bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến nay, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; bị cáo đã từng bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Trộm cắp tài sản nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 08/CT-VKSLSN-KV ngày 20 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền án chưa được xoá án tích và là người sử dụng trái phép chất ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo có ông nội Hoàng Công H được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huân chương kháng chiến hạng Ba, Tổ quốc ghi công là Liệt sĩ và gia đình bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Hoàng Công T ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian dài, áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt, mới đủ để bị cáo cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo, do không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,0746 gam chất ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 xi lanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Vấn đề khác: Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo Hoàng Công T vào ngày 15-01-2026, tại khu vực ngã tư K, xã K, tỉnh Bắc Ninh nhưng do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xem xét xử lý.

Xét đề nghị luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm a, c khoản 1 Điều 47; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Công T (Căn cước công dân số 020093007476, Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 08-7-2024) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Công T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15 tháng 01 năm 2026.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của phòng Kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Trong phong bì thư có vỏ đựng mẫu vật và 0,0746 gam mẫu vật là ma túy heroin còn lại sau giám định; 01 phong bì màu trắng, được niêm phong dán kín mép, bên trên tại phần giáp lai có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu tròn của Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Bên ngoài phong bì thư có ghi dòng chữ “Xi lanh có gắn kim tiêm thu trên người Hoàng Công T”.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn ngày 24 tháng 4 năm 2026).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Công T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ