- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạ Ló Cà - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mạ Ló C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2026/HS-ST Ngày 29-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Ngọc Sáng;
2. Ông Nguyễn Công Đại;
- Thư ký phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia
phiên toà: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Ngày 29/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST-HS, ngày 30/12/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2026/QĐXXST-HS, ngày 16/01/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mạ L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992, tại xã T, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Coòng Khà, xã T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mạ Phu P (đã chết) và con bà Mạ Xé P1, sinh năm 1957; Có vợ: Lò Hừ D, sinh năm 1991 và có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 13/10/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Mạ Ló C sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2012. Ngày 19/7/2015, C đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Phòng khám Đ, xã M, tỉnh Lai Châu (Nay là trạm y tế xã M, tỉnh Lai Châu) và được đưa vào chương trình điều trị từ ngày 19/7/2015. Thời điểm bị bắt, C duy trì tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại điểm trạm y tế số 1 xã T, tỉnh Lai Châu.
Trong thời gian tham gia chương trình điều trị Methadone, C không chấp hành nghiêm việc cai nghiện, vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
Ngày 06/10/2025, sau khi đi uống Methadone tại điểm trạm y tế số 1, xã T, tỉnh Lai Châu xong, C một mình đi bộ lên nương xả của gia đình C thuộc địa phận bản Coòng Khà, xã T, tỉnh Lai Châu để phun thuốc. Tại đây, C gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc L, lạ mặt 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 50.000 đồng để sử dụng, do không có giấy bạc để sử dụng ma tuý, nên C đã xin được của người đàn ông này 01 mảnh giấy bạc, sau đó C cho toàn bộ Heroine vào mảnh giấy bạc, dùng bật lửa đốt sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong, C cất chiếc bật lửa ga trong túi quần đang mặc rồi đi phun thuốc, quá trình phun thuốc không biết rơi tại vị trí nào, còn mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy nên không thu giữ được.
Ngày 08/10/2025, Công an xã T phối hợp Trạm y tế số 1, xã T kiểm tra, test nhanh ma túy đối với C. Kết quả: Cà dương tính với chất ma túy thuộc nhóm (Heroine, M).
Trước sự việc trên, Công an xã T, tỉnh Lai Châu lập biên bản ghi nhận, tiến hành thu mẫu nước tiểu của C, niêm phong và gửi giám định chất ma tuý cùng các chất chuyển hoá.
Tại Kết luận giám định số 2536 ngày 12/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Mạ Ló C:
“Trong chất lỏng màu vàng của mẫu ghi Mẫu nước tiểu Mạ Ló C, sinh năm: 1992 trú tại bản Coòng Khà, xã T, tỉnh Lai Châu thu ngày 08/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của H (H) trong cơ thể con người.
* Morphine: số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Heroine (H1): Số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKS-KV4 ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Mạ Ló C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Điều luật quy định như sau:
“Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số A23/BKL-CSMT, ngày 10/12/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 256a; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Mạ Ló C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Mạ Ló C mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vật chứng của vụ án: Mẫu nước tiểu thu của Mạ L đã được sử dụng toàn bộ làm mẫu vật giám định, không hoàn lại. Đối với chất ma túy loại Heroine và dụng cụ sử dụng ma túy, không thu giữ được do không xác định được người bán cho C và không xác định được vị trí C sử dụng ma túy, do đó không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
Tại lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, tỏ rõ sự ăn năn, hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận của bị cáo Mạ Ló C trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo khai trong quá trình khai nhận tại Cơ quan điều tra, bị cáo không bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký xác nhận và bị cáo thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06/10/2025. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thu thập đúng quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Như vậy, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ Kết luận giám định số 2536 /KL-KTHS, ngày 12/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong chất lỏng màu vàng của mẫu ghi nước tiểu của Mạ Ló C, sinh năm 1992 trú tại bản Coòng Khà, xã T, tỉnh Lai Châu thu ngày 08/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine (là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người). Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mạ Ló C là đối tượng đang trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Ngày 06/10/2025, C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bản C, xã T, tỉnh Lai Châu, C bị Công an xã T triệu tập và lấy mẫu giám định chất ma túy trong cơ thể. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của C có chất ma túy loại Morphine (là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người).
Bị cáo Mạ Ló C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng vẫn gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Mạ Ló C chưa có tiền án, bị cáo sinh ra tại xã T, tỉnh Lai Châu; bị cáo là người nghiện chất ma tuý.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào những tình tiết, yếu tố như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù trong khung hình phạt tại khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu là đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Mẫu nước tiểu thu của Mạ L đã được sử dụng toàn bộ làm mẫu vật giám định, không hoàn lại, việc Cơ quan điều tra - Công an tỉnh L gửi mẫu đi giám định là đúng quy định của pháp luật. Đối với chất ma túy loại Heroine và dụng cụ sử dụng ma túy, không thu giữ được do không xác định được người bán cho C và không xác định được vị trí C sử dụng ma túy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên HĐXX cần xem xét miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về những vấn đề khác:
Về nguồn gốc chất ma túy Mạ Ló C sử dụng: Theo lời khai của C, số Heroine mua được của một người đàn ông dân tộc La Hủ, lạ mặt tại khu vực bản C, xã T, tỉnh Lai Châu. Do C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của Cà, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh, làm rõ, do đó không có căn cứ để xem xét, xử lý. Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết vấn đề nêu trên.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về biện pháp ngăn chă ̣n: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chă ̣n tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mạ Ló C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mạ Ló C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 13/10/2025.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu; - Bị cáo; - Phòng THA DS Khu vực 4 - Lai Châu; - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu; - Lưu HS – HS./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Văn Dũng |