- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Kh - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2026/HS-ST Ngày: 24 - 03 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hải
Ông Giàng A Chỉnh
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lai Châu tham gia phiên toà: bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23/03/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2026/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2026/HSST-QĐ ngày 13/3/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1974 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã T, tỉnh Lai Châu; Số thẻ CCCD: 012074000757 cấp ngày 21/4/2021, nơi cấp: Cục C -BCA; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Giàng A D (đã chết); Con bà: Giàng Thị H (sinh năm 1966); Có vợ là Hảng Thị G, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/12/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Giàng A K khai: Khoảng 06 giờ, ngày 13/10/2025, K đi từ nhà đến bản Sàng Mào Phô thuộc xã S, tỉnh Lai Châu mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, K đi đến đầu bản Sàng Mào Phô thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Qua nói chuyện, K mua được của người này 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng, sau đó K đi về nhà còn người đàn ông đi đâu K không biết. Khoảng 08 giờ ngày 14/10/2025, Giàng A K lấy gói Heroine nói trên ra sử dụng hết bằng hình thức hít tại bếp nhà mình, sau khi sử dụng ma túy xong K vứt mảnh nilon để gói H1 và giấy bạc để hít Heroine vào bếp đốt hết.
Cùng ngày 14/10/2025, Công an xã T triệu tập Giàng A K đến Trạm y tế xã T, tỉnh Lai Châu để kiểm tra ma tuý trong cơ thể, theo diện quản lý người nghiện ma tuý, do Giàng A K đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế (methadone) theo quy định của Luật Phòng chống ma tuý, tại khoa HIV Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L. Kết quả test ma túy trong nước tiểu của Giàng A K là dương tính. Công an xã T đã thu giữ mẫu nước tiểu của Giàng A K gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 2715/KL-KTHS ngày 18/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:“Trong mẫu nước tiểu thu của Giàng A K gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Morphine.
* M là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIA, số thứ tự 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát.
Các vấn đề khác của vụ án:
Về nguồn gốc số Heroine Giàng A K khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, gặp ở bản S, xã S, tỉnh Lai Châu. Do K không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Cáo trạng số: 55/CT-VKSKV1 ngày 09/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu đã truy tố Giàng A K về tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A K từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2025; Về vật chứng: Không
Về án phí: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận gì, không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét, tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Giàng A K là người đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế (methadone) theo quy định của Luật Phòng chống ma tuý tại khoa HIV Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/10/2025, tại nhà của K thuộc bản P, xã T, tỉnh Lai Châu, Giàng A K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít Heroine.
Bị cáo Giàng A K là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất ít nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Giàng A K đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định như sau:
“Điều 256a: Tội sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn sau cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; […]”
Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
. Về án phí: Bị cáo Giàng A K sinh sống ở bản P, xã T, tỉnh Lai Châu thuộc bản có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 60/QĐ-ĐBTTG ngày 29/01/2026 của Bộ trưởng Bộ D1 và tôn giáo. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
[1]. Tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A K 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2025.
[3]. Về án phí: Bị cáo Giàng A K được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Lai Châu; - Trại Tạm giam CA tỉnh Lai Châu; - VKSND KV1 - Lai Châu; - Phòng THADS KV1 - Lai Châu; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Vân Anh |