- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh H1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Vân H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2026 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương
Ông Vũ Hùng Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Kiều Huyền Phương - Thư ký tòa án Toà án nhân dân Khu vực 1 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực I- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2026/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2026 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử số 47/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Vân H, sinh năm 1995; nơi thường trú: Tổ 18, khu 2, phường V, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Tổ 19, khu 2, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H1, sinh năm 1993; nơi thường trú: Xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Tổ 8A, phố B, phường T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Vân H và bị đơn anh Nguyễn Minh H1 thống nhất trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Vân H và anh Nguyễn Minh H1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) vào năm 2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về sống chung cùng bố mẹ đẻ của chị H tại tổ 18, khu 2, phường V, tỉnh Phú Thọ đến tháng 3/2026 thì vợ chồng sống ly thân. Anh H1 thuê nhà ở riêng tại phường T, tỉnh Phú Thọ còn chị H và con vẫn tiếp tục sống cùng bố mẹ đẻ chị cho đến nay.
Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do anh H1 không chịu khó làm ăn, hay chơi bời, rượu chè, không lo lắng cho vợ con, đỉnh điểm là vào tháng 9 năm 2025 anh H1 bị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ xét xử về tội “Đánh bạc”. Theo anh H1 thì nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phạm tội đánh bạc bị Tòa án xét xử, vợ chồng ly thân khoảng 25 ngày nhưng vẫn gọi điện bình thường, tình cảm vợ chồng vẫn có thể cải thiện được nên anh không đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Vân H và anh Nguyễn Minh H1 đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đan L, sinh ngày 06/02/2022, hiện cháu L đang ở với chị H.
Khi ly hôn, chị Vân H và anh Minh H1 đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đan L và không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và vấn đề khác: Chị Nguyễn Vân H và anh Nguyễn Minh H1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Minh H1 đã đến Tòa án cung cấp lời khai thể hiện quan điểm và xin Tòa án cho thêm thời gian hòa giải. Tòa án tiến hành hòa giải lần thứ nhất, các bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Tại phiên hòa giải lần 2, anh H1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.
Tại phiên tòa:
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án, về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Vân H ly hôn anh Nguyễn Minh H1. Về con chung: Giao con chung cho chị Vân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, anh Minh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Vân H tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung, về nợ chung, về công sức đóng góp: Tòa án không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu. Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tiến hành tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặc dù, bị đơn đăng ký thường trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ nhưng vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ của nguyên đơn tại khu 2, phường V, tỉnh Phú Thọ từ khi kết hôn năm 2021 đến tháng 4/2026 thì chuyển đến thuê nhà tại phường T, tỉnh Phú Thọ và sống ở đó đến nay. Đồng thời, anh H1 cũng đồng ý để Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Phú Thọ giải quyết vụ án ly hôn nên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Chị Nguyễn Vân H đã có bản tự khai, đã tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng sau đó có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị là đúng quy định.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh H1 đã nhận thông báo thụ lý vụ án, đến Tòa án tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất. Tại phiên tòa giải lần 2, bị đơn không có mặt mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ. Sau đó, Tòa án đã đến nơi anh H1 thuê nhà để tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng được Tổ trưởng tổ dân phố cung cấp về việc kể từ sau khi Tòa án đến làm việc thì anh H1 không về nơi thuê nhà nữa và đi đâu không rõ.
Như vậy, trường hợp này được coi là anh H1 cố tình trốn tránh nên đáng lẽ Tòa án đưa vụ án ra xét xử không cần niêm yết các văn bản tố tụng nhưng để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn Tòa án vẫn tiến hành niêm yết theo quy định. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1 và lần xét xử thứ hai này anh H1 vẫn không có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1.
.Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vân H và anh Minh H1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 27/02/2021 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Nay là UBND xã T, tỉnh Phú Thọ) nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Các đương sự đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2026 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 không chịu khó làm ăn, hay chơi bời, rượu chè, không lo lắng cho vợ con, vào tháng 9/2025 anh H1 bị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ xét xử về tội “Đánh bạc”. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng chị Vân H và anh Minh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của H1 là phù hợp.
- Về con chung: Các đương sự đều thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đan L, sinh ngày 06/02/2022, hiện nay cháu L do chị Vân H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Khi ly hôn, chị Vân H và anh Minh H1 đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đan L.
Xét thấy cháu L là con gái, đang sinh sống ổn định cùng mẹ và chị H khi chăm sóc con còn có sự phụ giúp của ông bà ngoại. Anh Minh H1 không có nơi ở ổn định, ngày 26/9/2025 đã bị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ xét xử về tội “Đánh bạc”. Do vậy, để cho con chung tiếp tục có cuộc sống ổn định, đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt nhất cho cháu L, cần giao con chung cho chị Vân H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Minh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Vân H tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và vấn đề khác: Chị Vân H và anh Minh H1 đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Vân H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Vân H:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Vân H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đan L, sinh ngày 06/02/2022 cho chị Vân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Minh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Vân H tự nguyện không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và vấn đề khác: Tòa án không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Vân H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Vân H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003440 ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 34 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - THADS tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 1 – Phú Thọ; - UBND xã T, tỉnh Phú Thọ; - Lưu: HSVA,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phùng Thị Thu Hường |