vanban.org

Bản án 54/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 24/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm c khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106, điều 136, điều 331, điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị D Y - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HSST
Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

2. Bà Hoàng Thị Thiệu

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hương Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 24.3.2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 412/2024/HSST ngày 16.12.2024 đối với bị cáo: Y; Sinh năm: 1987. Giới tính: Nữ. HKTT: 60 N, phường K, thành phố H, Thừa Thiên Huế. Nơi ở: 82 đường D khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn D. Con bà: Nguyễn Thị Diệu H. Bị cáo có 3 con: SN 2010, 2021 và 18/2/2025. Danh chỉ bản số 624 ngày 02.11.2024 do công an quận H cung cấp. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. * Người bị hại: Ông Nguyễn Văn D2 (sinh năm: 1950; HKTT: 105 ngõ A Chợ K, phường T, Đ, Hà Nội). Đã chết ngày 23/5/2022 do tai nạn giao thông. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Phạm Hồng Q (sinh năm: 1962; HKTT: số B L, phường Đ, H, Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa. 2. Anh Vũ Văn T (sinh năm: 1980; HKTT: Xóm T, P, G, Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa. * Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn D2: 1. Bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm: 1958; Địa chỉ: A ngõ A Chợ K, phường K, Đ, Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa. 2. Anh Nguyễn Mạnh C (sinh năm: 1987; Địa chỉ: A ngõ A Chợ K, phường K, Đ, Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa. 3. Chị Nguyễn Thị X (sinh năm: 1988; Địa chỉ: A ngõ A Chợ K, phường K, Đ, Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h15’ ngày 23/5/2022, ông Nguyễn Văn D2 (SN: 1950, HKTT: 105 ngõ A Chợ K, phường T, Đ, Hà Nội) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda cúp 82, màu xanh mang BKS: 29K6-0015 gắn giá đỡ bằng gỗ cố định trên yên sau, chở theo nhiều bìa cacton xếp chồng lên nhau (tổng kích thước rộng 0.75m, dài 0.93m, cao 0.9m) đi trên phố L chiều từ Trần Xuân S hướng T, quận H, Thành phố Hà Nội. Cùng lúc này, Y điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX mang BKS: 75B1-18983 di chuyển từ trên vỉa hè trước số I L, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội xuống dưới lòng đường theo hướng vuông góc với lòng, lề đường L, phía trước đầu xe ô tô nhãn hiệu Zace mang BKS: 30G-255.85 85 của ông Phạm Hồng Q (SN: 1962, HKTT: số B L, phường Đ, H, Hà Nội) đang đỗ dưới lòng đường (sát vỉa hè trước cửa số I L). Khi Y điều khiển xe mô tô PCX xuống dưới lòng đường, đầu xe môtô vượt qua chiều rộng xe ôtô Zace, Y tiếp tục điều khiển chuyển xe mô tô hướng ra giữa đường đồng thời chuyển hướng sang bên phải nhưng không bật đèn xi nhan báo rẽ. Đúng lúc này, ông D2 điều khiển xe môtô chở bìa caton đi đến, giá đỡ và bìa caton va chạm vào mặt ngoài cánh yếm chắn gió trước bên trái xe môtô PCX mang BKS: 75B1-189.83 dẫn đến xe môtô PCX bị đổ xuống lòng đường song song với vỉa hè, Y chống chân và đứng ở tư thế quay lưng ra lòng đường còn chiếc xe môtô Cub BKS: 29K6-0015 do ông D2 điều khiển bị mất lái và nghiêng sang trái chiều đi, lấn qua vạch sơn (nét đứt), xe đổ ra giữa đường, ông D2 ngã xuống va đập vùng mặt, đầu vào khu vực phía dưới đèn gầm bên trái ôtô Suzuki APV van, màu đồng mang BKS: 29A-376.07 do anh Vũ Văn T (SN: 1980, trú tại: Xóm T, P, G, Hà Nội) điều khiển di chuyển trên làn đường ngược lại. Sau khi xảy ra tai nạn, ông D2 tử vong tại chỗ. Diệu Ý điều khiển xe máy bỏ đi khỏi hiện trường.

Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã phối hợp cùng Viện kiểm sát tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Y, Nguyễn Văn D2 và anh Vũ Văn T: 0,000mg/l. Diệu Y, ông D2 và anh T có giấy phép lái xe theo quy định.

* Tang vật thu giữ:

- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, BKS: 75B1-18983.

- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Cub 82, BKS: 29K6-0015.

- 01 (một) chiếc xe ôtô nhãn hiệu Suzuki APV ghi vàng, BKS: 29A-37607.

- 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Zace, BKS: 30G-25585.

Tại cơ quan điều tra, Y khai nhận khi bánh sau xe mô tô PCX từ trên vỉa hè xuống đến lòng đường, Y mới bắt đầu đánh lái sang bên phải, hai chân vẫn chống xuống đường (Y quan sát được phía trước và hướng định rẽ về Nguyễn Công T1, không quan sát các phương tiện di chuyển từ hướng ngã 5 L về Hướng N) cùng lúc đó thì ông Nguyễn Văn D2 điều khiển xe máy có gắn giá đựng đồ và chở nhiều bìa cattong phía sau di chuyển tốc độ cao trên lòng đường Lò Đúc hướng Trần Khát C1 bất ngờ cắt ngang qua đầu xe của Y thì phần giá đỡ và cattong phía sau va vào phần ốp nhựa bên trái xe PCX làm chiếc xe bị đổ xuống lòng đường, chiếc xe máy của ông D2 bị mất lái đổ trượt sang bên trái xuống lòng đường và văng trượt sang làn đường ngược chiều. Y nhận thức việc điều khiển xe mô tô tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng không đủ điều kiện an toàn dẫn đến xảy ra sự việc trên là sai, vi phạm pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, anh Vũ Văn T trình bày phù hợp với nội dung vụ việc nêu trên.

* Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết va chạm, kết quả: Tại bản Kết luận giám định số 5343 ngày 04/08/2022 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29A-376.07 với xe mô tô BKS: 29K6-0015.

- Dấu xết trượt xước, bong tróc sơn màu đồng, nứt nhựa, bám dính chất màu đen (dạng cao su) trên diện (49x19) cm tại mặt ngoài phía dưới bên trái chắn đà trước xe ô tô BKS 29A-376.07, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sáng trái (ảnh A3 => A6 – bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất cao su màu đen, xước cong kim loại, bám dính chất màu đồng (dạng sơn) trên diện (25x20) cm tại mặt ngoài bên phải giá đèo hàng trước và dây cao su màu đen buộc ở bên phải đèo hàng trước xe mô tô BKS: 29K9 – 0015, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên (khi xe mô tô ở trạng thái nằm nghiêng bên trái) (ảnh B3 => - bản ảnh giám định) – Là dấu vết va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

- Dấu vết trượt xước sơn, bám dính chất màu đen (dạng cao su) trên diện (7,5 x 1) cm tại mặt ngoài bên trái chắn đà trước (sát cạnh bên trái cụm đèn gầm) xe ô tô BKS: 29A – 376.07 chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái (ảnh A7+A8 – bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước, mất cao su màu đen trên diện (2x1)cm tại mặt ngoài đầu tay lái bên phải xe mô tô BKS: 29K6 – 0015, chiều hướng từ ngoài vào trong tâm, ngược chiều quay của K1 (khi xe mô tô ở trạng thái nằm nghiêng bên trái) (ảnh B7 + B8 – bản ảnh giám định).

- Không xác định được điểm va chạm đầu tiên trên 02 phương tiện.

2. Dấu vết trên xe mô tô BKS : 75B-189.83

Dấu vết trượt nứt vỡ nhựa trên diện (1,6 x3,5) cm tại mặt ngoài cánh yếm chắn gió trước bên trái xe, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải (ảnh C3=> C5 – bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày tạo ra.

3. Không xác định được dấu vết va chạm phù hợp và điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS B1 – 189.83 và xe mô tô BKS 29K6 – 0015.”

* Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tốc độ xe mô tô BKS 29K6-0015 do ông Nguyễn Văn D2 điều khiển tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm đến thời điểm xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 75B1-18983 do chị Diệu Y điều khiển. Tại bản Kết luận giám định số 6023 ngày 20/10/2022 của V - Bộ C2 kết luận:

“+ Không tìm thấy dấu vết cắt ghéo, chỉnh sửa nội dung trong các file video gửi giám định.

+ Tốc độ của xe mô tô trong file video “Video 2.mp4” tại thời điểm “14:12:01” đến 14:12:03” (theo thời gian thể hiện trên hình ảnh) trong khoảng 22km/h đến 27 km/h.

+ Đã trích xuất hình ảnh phương tiện và người điều khiển phương tiện trong vụ tai nạn. Chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.”

* Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Văn D2. Tại bản kết luận gám định pháp y số 737/GĐPY Ngày 20/6/2022 của T5, kết luận:

1. Các dấu hiệu chính qua giám định

- Vùng thái dương phải bị va đập vào vật tày với lực tác động rất mạnh gây:

+ Vỡ xương đá phải lan vào thân xương bướm, vỡ xương thân bướm, bỡ hố yên lan đến xương đá trái.

+ Vỡ xương đá phải lan đến xương chẩm

+ Dập não

+ Tổn thương sợ trục thần kinh lan tỏa

2. Nguyên nhân chết: nạn nhân Nguyễn Văn D2, sinh năm 1950 tử vong do chấn thương sọ não rất nặng.

* Đối với anh Vũ Văn T: điều khiển xe đúng tốc độ, làn đường. Ông D2 bị ngã sang phần đường ngược chiều nên dẫn đến tai nạn trên thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh T.

* Đối với ông Phạm Hồng Q vi phạm lỗi Đỗ xe nơi có biển “Cấm đỗ xe”, quy định tại điểm e, khoản 3, Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung tại Điều 2, Nghị định 123/2021/NĐ-CP đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, Cơ quan điều tra không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Q về hành vi vi phạm trên.

* Đối với 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, BKS: 75B1-18983, số khung: 308DY-007078, số máy: F43E-007094, quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên là anh Trần Quốc T2 (SN: 1986 là chồng của Y). Ngày 23/5/2022, Y sử dụng chiếc xe trên để đi lại, anh T2 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Y. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho anh T2 chiếc xe trên, sau khi nhận lại tài sản, anh T2 không có yêu cầu đề nghị về dân sự.

* Đối với 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Cub 82, BKS: 29K6-0015, số khung: 8658013, số máy: 8655621, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn D2: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn D2, đã bị hư hỏng nhẹ. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho anh Nguyễn Mạnh C (SN: 1987; Nơi cư trú: 105 ngõ A Chợ K, phường T, Đ, Hà Nội) - con trai ông D2 chiếc xe trên, sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị về dân sự.

* Đối với 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Zace, BKS: 30G-25585, số khung: KF36912570, số máy: 7K0772845: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Phạm Hồng Q. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho ông Q chiếc xe trên, sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị về dân sự.

Đối với 01 (một) chiếc xe ôtô nhãn hiệu Suzuki APV ghi vàng, BKS: 29A-37607, số khung: 300149, số máy: 168359: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Vũ Văn T. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho anh T chiếc xe trên, sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị về dân sự.

Về dân sự, Y đã bồi thường cho gia đình Ông Nguyễn Văn D2 số tiền 80.000.000 đồng (T3 mươi triệu đồng), anh Vũ Văn T hỗ trợ bồi thường 30.000.000 đồng, sau khi nhận bồi thường, gia đình ông D2 không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Y.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nói trên là do Y điều khiển thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng khi không đủ điều kiện an toàn vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với bìa caton được chở phía sau xe mô tô nhãn hiệu Honda cúp 82, màu xanh mang BKS: 29K6-0015 do ông Nguyễn Văn D2 điều khiển. Hậu quả sau va chạm ông D2 mất lái ngã sang làn đường đối diện và đập đầu vào phần đầu xe ô tô BKS: 29A-376.07 di chuyển ngược chiều do anh Vũ Văn T đang điều khiển làm ông D2 tử vong. Sau khi xảy ra va chạm, Diệu Y điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Trong vụ việc trên ông D2 có một phần lỗi là điều khiển xe môtô thiếu chú ý quan sát, chở hàng cồng kềnh vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 19 Thông tư 46/2015/TT-BGTVT của Bộ G1.

Tại bản cáo trạng số 390/CT/VKS-HS ngày 29.11.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, bị cáo Y bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm c khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kết thúc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố nhà nước tại phiên tòa đã luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: điểm c khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 54, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét xử bị cáo Y với mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên không xét.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, là phù hợp với lời khai tại Cơ

quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14h15’ ngày 23/5/2022 tại trước số I L, phường P, quận H, Hà Nội, Y điều khiển thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng khi không đủ điều kiện an toàn vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với bìa caton được chở phía sau xe mô tô nhãn hiệu Honda cúp 82, màu xanh mang BKS: 29K6-0015 do ông Nguyễn Văn D2 điều khiển. Hậu quả sau va chạm ông D2 mất lái ngã sang làn đường đối diện và đập đầu vào phần đầu xe ô tô BKS: 29A-376.07 di chuyển ngược chiều do anh Vũ Văn T đang điều khiển làm ông D2 tử vong. Sau khi xảy ra va chạm, Diệu Y điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường.

Hành vi của bị cáo Y đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã gây nên mất mát đau thương cho người bị hại và gia đình người bị hại không gì bù đắp được.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là vụ án có lỗi hỗn hợp do bị cáo điều khiển môtô nhãn hiệu Honda PCX, BKS: 75B1-18983 thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng khi không đủ điều kiện an toàn và người bị hại điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda cúp 82, màu xanh mang BKS: 29K6-0015 thiếu chú ý quan sát, chở hàng cồng kềnh dẫn đến va chạm. Hậu quả sau va chạm ông D2 mất lái ngã sang làn đường đối diện và đập đầu vào phần đầu xe ô tô BKS: 29A-376.07 di chuyển ngược chiều do anh Vũ Văn T đang điều khiển làm ông D2 tử vong.

Xét nhân thân bị cáo Y chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Hoàn cảnh gia đình bị cáo có 3 con, con lớn sinh năm 2010, con thứ 2 sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2025. Khi pham tội bị cáo có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo hiện mới sinh con ngày 18/02/2025, con bị cáo mới hơn 01 tháng tuổi. Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nhưng bị cáo cũng phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên không xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Y phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm c khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106, điều 136, điều 331, điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Y 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

Đại diện hợp pháp cho người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ