vanban.org

Bản án 54/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường C 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2025. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HSST
Ngày: 28/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Lành và Ông Nguyễn Bá Lý.

Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

NGUYỄN TRƯỜNG C; giới tính: nam; sinh ngày: 18/01/1991 tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Tổ B, phường Y, Thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A L, tổ B, phường Y, Thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: lái xe; Số CCCD: 064091009107 do Cục C2 về TTXH cấp.

Cha: Nguyễn Trường G, sinh năm 1966; Hộ khẩu tại: Tổ B, phường Y, tỉnh Gia Lai. Chổ ở hiện nay: không xác định.

Mẹ: Cai Thị Thanh V, sinh năm 1966; trú tại Tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1989.

Bị cáo sống chung với Lê Thị Minh N, sinh năm 1994 và có 01 con chung sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 24/01/2025, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

- Anh Lê Văn H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường C sử dụng chất ma túy từ khoảng giữa năm 2024. Qua các mối quan hệ xã hội, C quen biết và có số điện thoại của người thanh niên tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma tuý. Vào khoảng 08 giờ ngày 15/01/2025, C gọi điện thoại cho C1 để hỏi mua ma túy về sử dụng; C1 đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực cổng quán C3 ở đường Đ, xã B, thành phố P. Sau đó, C đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch và biển số xe) chở đến điểm hẹn gặp C1 và mua 03 gói nilon bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine và 01 dụng cụ sử dụng ma túy đá với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C mang về nhà tại số A đường L, Tổ B, phường Y, TP .. Sau đó, C trích ra một ít rồi sử dụng; số ma túy còn lại cùng dụng cụ sử dụng ma túy, C cất giấu trong túi quần bên phải mặc trên người để khi nào cần thì lấy ra sử dụng. Đến 20 giờ ngày 16/01/2025, khi C đang ở nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Y bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm: 03 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể cùng 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu phình to bên trong bám dính chất màu trắng (đã được niêm phong theo quy định) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen kèm thẻ sim (mặt sau sim có dãy số 8401 2408 1249 0168.

Qua xét nghiệm, xác định: Nguyễn Trường C dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của phòng K

- Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 03 (ba) gói nilon trong bì công văn ghi “Số 1” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4665 gam. Chất màu trắng bám dính trong đoạn ống thủy tinh (uốn cong, một đầu phình to) trong bì công văn, ghi “Số 2” gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, không cân được khối lượng do lượng mẫu ít”.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (kèm sim số) đã thu giữ là của bị cáo và bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma túy; 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu phình to là dụng cụ C dùng để sử dụng ma túy đá.

* Vật chứng của vụ án, gồm:

+ Chất ma túy cùng dụng cụ sử dụng ma tuý sau giám định trong 02 bì công văn niêm phong đều ghi “Số 157/PC09 ngày 24 tháng 01 năm 2025” có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;

+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8401 2408 1249 0168).

Đối với đối tượng tên C1 là người mà bị cáo C khai đã bán ma túy cho C: Do bị cáo C không biết được nhân thân, lai lịch của C1; Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra danh bạ, nhật ký trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng không xác định được số điện thoại của C1 do sau khi liên lạc xong, C đã xoá nhật ký cuộc gọi. Đồng thời, đã xác minh tại địa bàn xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng không xác định được đối tượng tên C1 có liên quan đến hoạt động ma túy nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số: 63/CT- VKS ngày 05/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo mức án từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù.

Về vật chứng của vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8401 2408 1249 0168), là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 02 bì dán kín đều ghi số 157/PC09 ngày 24/1/2025, có đóng dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G là ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như cáo trạng đã nêu, nhận thấy hành vi đó của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo và người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội như sau:

Nguyễn Trường C sử dụng chất ma túy từ khoảng giữa năm 2024. Vào khoảng 08 giờ ngày 15/01/2025, tại khu vực cổng quán C3 ở đường Đ, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Trường C đã mua của đối tượng tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 03 gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 700.000 đồng, sau đó C đã sử dụng một phần, số còn lại C cất giấu với mục đích để sử dụng. Đến 20 giờ ngày 16/01/2025, khi Nguyễn Trường C đang ở nhà tại số A đường L, Tổ B, phường Y, thành phố P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Y bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 03 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể; 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu phình to bên trong bám dính chất màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (kèm thẻ sim) mà C đã sử dụng để liên lạc mua ma tuý.

Qua giám định, xác định: 03 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể mà bị can Nguyễn Trường C đã tàng trữ, với mục đích để sử dụng là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,4665 gam.

Hành vi tàng trữ 0,4665 gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng, do bị cáo Nguyễn Trường C thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố.

Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử dụng ma túy là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, nhưng vẫn cố tình phạm tội.

Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8401 2408 1249 0168) là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 02 bì công văn dán kín ghi số 157/PC09 ngày 24/1/2025, có đóng dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G là ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản, thu nhập gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường C 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2025.

Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bì công văn dán kín đều ghi số 157/PC09 ngày 24/01/2025, có đóng dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8401 2408 1249 0168) (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi Cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong) của bị cáo Nguyễn Trường C.

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Trường C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ