vanban.org

Bản án 54/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC X - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST
Ngày 16 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - HƯNG YÊN

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị An.

Bà Hoàng Thị Phụng.

* Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 16/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 27/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 04/9/2025, đối với bị cáo:

Hà Văn S (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 24/12/1963 tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên); nơi thường trú: Thôn T, phường TL, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình); nơi ở hiện nay: Số nhà 08B, Ngõ 108, đường N, Tổ 3, phường TL, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Số nhà 08B, Ngõ 108, đường N, Tổ 3, phường TL, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 034063005XXX; con ông Hà Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; có vợ là Phạm Thị C (đã ly hôn); có 3 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 39/HSST ngày 28/4/2005, Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 54 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2005 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2008; tiền án phí hình sự sơ thẩm được miễn theo Quyết định miễn thi hành án số 05/2010/QĐ-TA ngày 20/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên); không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Hải Ph, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ 8, phường TL, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Tổ 8, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình). (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Lê Viết Anh M, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ 15, phường TL, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Tổ 15, phường TL, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình). (vắng mặt)

2. Anh Phạm Văn P, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ 10, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Tổ 10, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/6/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) làm nhiệm vụ tuần tra trên trục đường Lê Quý Đôn thuộc tổ 10, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là tổ 10, phường TL, tỉnh Hưng Yên) phát hiện Hà Văn S đang điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX đi trên trục đường Lê Quý Đôn có biểu hiệu nghi vấn liên quan đến ma tuý nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Lê Viết Anh M và anh Phạm Văn P, S tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải S đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy mặt bên ngoài màu trắng, mặt bên trong màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. S khai nhận đó là hêrôin, S vừa mua về mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng gửi giám định; ngoài ra, còn quản lý của S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn S tại số nhà 08B, ngõ 108, đường N, tổ 3, phường TL, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là phường TL, tỉnh Hưng Yên). Qua khám xét, không phát hiện thu giữ tài sản, đồ vật gì.

Tại cơ quan điều tra, Hà Văn S khai nhận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 02/6/2025, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX đi từ nhà đến khu vực công viên Kỳ Bá thuộc địa phận phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là phường TL, tỉnh Hưng Yên) để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, S đã gặp và mua của một người nam giới khoảng 55 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói hêrôin với giá 200.000 đồng. Mua xong, S cất giấu gói hêrôin vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang điều khiển xe đi trên đường Lê Quý Đôn thuộc địa phận tổ 10, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là tổ 10, phường TL, tỉnh Hưng Yên) thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) phát hiện, yêu cầu kiểm tra và S đã tự giác giao nộp gói hêrôin trên.

Tại Kết luận giám định số 564/KL-KTHS ngày 06/6/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên), kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2114 gam (không phẩy hai nghìn một trăm mười bốn gam). Heroin (Heroine) STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Cáo trạng số 23/CT-VKSVT ngày 25/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Hưng Yên truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên để xét xử đối với Hà Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Hà Văn S khai nhận hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả;

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo S mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, phạt tiền bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng sung ngân sách nhà nước. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 564/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên); trả lại anh Vũ Hải Ph 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX (đã qua sử dụng). Bị cáo S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Hà Văn S đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Hà Văn S nói lời sau cùng: Bị cáo là người cao tuổi, bị bệnh tràn dịch màng phổi, sức khỏe yếu, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Hà Văn S khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản sự việc, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến; ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/6/2025 tại trục đường Lê Quý Đôn thuộc tổ 10, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là tổ 10, phường TL, tỉnh Hưng Yên), Hà Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2114 gam (không phẩy hai nghìn một trăm mười bốn gam), mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của Hà Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, thì:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…;

c) Heroine, Cocaine, Heroin (Heroine), Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”.

[4] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy: Hành vi phạm tội của Hà Văn S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[5] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy: Hà Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy: Năm 2005, Hà Văn S đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định của pháp luật bản án đã xét xử với bị cáo đã được xóa án tích nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt. Do đó, HĐXX cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo làm nghề lao động tự do, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng, tài sản:

8.1. Số ma túy thu giữ trong vụ án được hoàn trả sau giám định còn lại 0,1747 gam (không phẩy một nghìn bẩy trăm bốn mươi bẩy gam) được niêm phong trong 01 phong bì số 564/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX cần tịch thu tiêu hủy.

8.2. Đối với 01 mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của anh Vũ Hải Ph. Quá trình điều tra xác định ngày 02/6/2025 anh Ph cho S mượn xe mô tô để đi giải quyết công việc cá nhân, không biết S sử dụng xe để đi mua ma túy. Xét đề nghị được nhận lại xe mô tô của anh Ph là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

[9] Về nguồn gốc số ma túy, Hà Văn S khai mua của một người nam giới khoảng 55 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực công viên Kỳ Bá thuộc địa phận phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là phường TL, tỉnh Hưng Yên) nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

[10] Bị cáo Hà Văn S là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí, do đó, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Bị cáo Hà Văn S có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hà Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn S.

3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy 0,1747 gam (không phẩy một nghìn bẩy trăm bốn mươi bẩy gam) ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì số 564/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên). Trả lại anh Vũ Hải Ph 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 17AC-021.XX (đã qua sử dụng). (Vật chứng, tài sản đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực X - Hưng Yên vào ngày 29/8/2025).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Văn S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hà Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Hải Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án (ngày 16/9/2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo và người TGTT khác;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân KV5 Hưng Yên;

- Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên;

Nguyễn Thị Thùy Dương

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Hưng Yên;

- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hưng Yên;

- Lưu: Hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

Cỡ chữ