vanban.org

Bản án 54/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2024 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 54/2025/HS-ST
Ngày 28 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM , TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân và ông Quàng Văn Tiện

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở UBND xã Chiềng Cang, huyện SM , Toà án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2025/TLST-HS ngày 07/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 17/3/2025 đối với bị cáo:

Lò Văn M ; tên gọi khác: không, sinh năm 1981 tại huyện SM , tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L C, xã N M, huyện SM , tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Lò Văn L, đã chết và bà Vì Thị T, đã chết; vợ là Tòng Thị Khoản, sinh năm 1982 và 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 20 phút ngày 29/12/2024, tổ công tác Công an xã Huổi Một, huyện SM , tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Ta Hốc, xã Huổi Một, huyện SM , tỉnh Sơn La bắt quả tang Lò Văn M cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 02 gói nilon màu xanh, gói thứ nhất chứa 05 viên nén màu hồng, gói thứ hai chứa chất bột liên kết màu trắng hồng (Minh khai nhận là Heroine và Hồng phiến).

Ngày 30/12/2024, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện SM đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Minh, kết quả: 05 viên nén màu hồng trong gói nilon màu xanh thứ nhất thu giữ của Minh có tổng khối lượng là 0,47 gam. Sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu M1. Số chất bột liên kết màu trắng hồng trong gói nilon màu xanh thứ hai thu của Minh có tổng khối lượng là 0,46 gam. Sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu M2

Tại Kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“- Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam.

- Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,46 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là:

+ 0,47 gam, loại Methamphetamine;

+ 0,46 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất’’

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lò Văn M khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, Minh bắt xe khách tuyến Bắc Giang – Sốp Cộp đi từ tỉnh Bắc Giang đi về nhà. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 29/12/2024, xe khách đi đến xã Huổi Một, huyện SM thì Minh xuống xe và đi bộ lên bản Co Mạ, xã Huổi Một, huyện SM để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi đi đến bản Co Mạ, Minh gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen đang đi bộ ở đường trong bản, Minh hỏi và mua của người phụ nữ này được 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 02 gói nilon màu xanh, trong đó 01 gói chứa Heroine và 01 gói chứa 06 viên Hồng phiến với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Minh đi vào một bụi cây ở ven đường rồi mở gói ma tuý vừa mua được lấy ra 01 viên Hồng phiến nghiền nát trộn với số Heroine, rồi lấy một phần ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp. Còn lại 05 viên Hồng phiến thì Minh gói lại, số chất bột Hồng phiến trộn với Heroine cũng được Minh gói lại bằng mảnh nilon màu xanh, tiếp đó Minh dùng mảnh nilon màu trắng gói chung 02 gói ma túy lại rồi cất giấu vào túi áo phía trong bên trái của chiếc áo khoác đang mặc và đi bộ xuống ven đường Quốc lộ 4G thuộc bản Ta Hốc, xã Huổi Một, SM để về nhà. Khi đang đứng đợi xe ở ven đường thì bị tổ công tác của Công an xã Huổi Một làm nhiệm vụ và phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu.

Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKS ngày 06/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM đã truy tố bị cáo Lò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện SM , điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện SM , kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SM , không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM . Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 29/12/2024; Kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: 08 giờ 20 phút ngày 29/12/2024, tại khu vực bản Ta Hốc, xã Huổi Một, huyện SM , tỉnh Sơn La Lò Văn M có hành vi cất giấu trái phép 0,93 gam ma túy, trong đó: 0,47 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,46 loại Methamphetamine và Heroine mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lò Văn M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng số: 43/CT-VKS ngày 06/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

Vật chứng vụ án: Ma túy đã sử dụng hết làm mẫu giám định; giấy nilon và phong bì lưu hồ sơ vụ án.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại bản Co Mạ, xã Huổi Một, SM vào ngày 29/12/2024 không biết tên địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện SM không có căn cứ để điều tra, cần chấp nhận. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật, tội danh, hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2024

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.

Cỡ chữ