vanban.org

Bản án 54/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Đ1 được ly hôn. Về con chung: Giao 03 con chung chưa thành niên là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-6-2012 cho bà Huỳnh Thị Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Đ - Huỳnh Thị Đ1 (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 – 9 – 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đàm Thanh Vũ.

2. Ông Bùi Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Đ1 có đăng ký kết hôn vào ngày 04-09-2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần Thơ). Quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 03 người con chung tên là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-06-2012. Hiện tại cả 03 con đều đang sống với bà Huỳnh Thị Đ1. Về tài sản chung, nợ chung không có. Do cuộc sống có nhiều mâu thuẫn, tình cảm của vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay.

Theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Đ1.

- Về con chung: Yêu cầu giao 03 con chung là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-06-2012 cho bà Huỳnh Thị Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Văn Đ đồng ý thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung là 700.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Ý kiến của bị đơn bà Huỳnh Thị Đ1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần Thơ); giải quyết về con chung, cấp dưỡng cho con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác. Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ) thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn bà Huỳnh Thị Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân, ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Đ1 đã tự nguyện kết hôn và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, ông Nguyễn Văn Đ cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã không còn tình cảm. Mặc dù chưa có bản án, quyết định cho ly hôn nhưng trên thực tế thì vợ chồng đã sống ly thân, thuộc một trong các trường hợp cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nay một bên khởi kiện yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử giải quyết cho vợ chồng được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Đ1 có 03 con chung đều chưa thành niên là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-06-2012. Hiện nay, cả 03 con chung đều đang sống cùng với mẹ là bà Huỳnh Thị Đ1 tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ; cùng lập Tờ nguyện vọng ngày 16-6-2025 thể hiện mong muốn tiếp tục sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ thống nhất theo nguyện vọng của các con, đồng ý giao 03 con chung cho bà Huỳnh Thị Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy việc tự định đoạt của đương sự về vấn đề con chung như trên là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên quyết định giao cháu Nguyễn Huỳnh Kim T, Nguyễn Huỳnh Kim H, Nguyễn Huỳnh Kim H1 cho bà Huỳnh Thị Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng cho con: Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung là nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện thực hiện cấp dưỡng cho con chưa thành niên với mức cấp dưỡng 700.000 đồng/tháng/con. Đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về nghĩa vụ cấp dưỡng.

[6] Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ, chồng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[7] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.

- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Đ1 được ly hôn.

- Về con chung: Giao 03 con chung chưa thành niên là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-6-2012 cho bà Huỳnh Thị Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được phép cản trở.

- Về cấp dưỡng cho con: Ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên là Nguyễn Huỳnh Kim T, sinh ngày 06-6-2008; Nguyễn Huỳnh Kim H, sinh ngày 21-6-2010; Nguyễn Huỳnh Kim H1, sinh ngày 27-6-2012. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13-9-2025) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, mức cấp dưỡng bằng 700.000 đồng/tháng/con.

- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn: Không giải quyết trong vụ án này.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 600.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu án phí, tạm ứng án phí số 0000075 ngày 09-07-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là Thi hành án dân sự thành phố C). Ông Nguyễn Văn Đ còn phải nộp số tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ