vanban.org

Bản án 54/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.

Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HUỳnh Thị H-Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thơi

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long: ông Lê Hiển Đạt, kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị H, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ cũ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ hiện tại: ấp An Trung, xã Trung Thành, tỉnh Vĩnh Long

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ cũ: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ hiện tại: Ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2025 nguyên đơn chị Huỳnh Thị H trình bày:

Qua quen biết chị H và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 20/12/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc nhưng vào khoảng giữa năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ tháng 6/2014 cho đến nay.

Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh T có người phụ nữ khác bên ngoài, chị H có khuyên ngăn và tha thứ nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Thời gian vợ chồng ly thân thì anh T không đến thăm con cũng không gửi tiền phụ chị H nuôi con, anh T bỏ mặc không quan tâm tới mẹ con chị H nên vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay chị H xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh T không còn nữa nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014, hiện nay đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về phía bị đơn anh Nguyễn Minh T được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và xét xử nhưng anh T vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

Tại bản tự khai ngày 04/4/2025 cháu Nguyễn Minh Đ trình bày: sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là chị Huỳnh Thị H.

Tại phiên tòa, chị H và anh T vắng mặt.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 02/6/2025 chị H xin vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về hôn nhân: chị H yêu cầu ly hôn với anh T

Về con chung: có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Đ.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Vụ án thụ lý đúng thẩm quyền loại việc theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 37 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng về việc thu thập chứng cứ và hòa giải. Hội đồng xét xử đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí lệ phí Tòa án. Đề nghị:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: cho chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị H nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Huỳnh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 112/2013, quyển số 01/2013 ngày 20/12/2013 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Minh T là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của chị H thì sau khi cưới nhau chị H và anh T cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì không hàn gắn được. Chị H cho rằng anh T có người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con, chị H có khuyên nhủ và hàn gắn nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn từ năm 2014 và ly thân từ tháng 6/2014 cho đến nay không về đoàn tụ được. Tại đơn xin ly hôn chị H trình bày hiện chị và anh T không còn tình cảm với nhau nên không thể tiếp tục chung sống vợ chồng, vì vậy chị H yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Minh T được Tòa án thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu kèm theo để giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy mối quan hệ hôn nhân của chị H và anh T đã không thể hàn gắn, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: chị H trình bày vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014. Hiện cháu Đ đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T để làm rõ yêu cầu nuôi con chung của chị H nhưng anh T vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của anh T. Tại Bản tự khai ngày 04/4/2025 cháu Nguyễn Minh Đ có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn cháu được tiếp tục sống chung với mẹ là chị Huỳnh Thị H. Mặt khác, từ khi chị H và anh T ly thân đến nay cháu Nguyễn Minh Đ đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống và đang trong quá trình phát triển tâm sinh lý. Để đảm bảo ổn định cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý cho cháu Đ. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H. Giao cháu Nguyễn Minh Đ cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002237 ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2-Vĩnh Long). Chị H đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.

1. Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/7/2014 cho chị Huỳnh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Huỳnh Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Huỳnh Thị H không yêu cầu giải (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002237 ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2-Vĩnh Long). Chị Huỳnh Thị H đã nộp đủ.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ