- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Văn Chi C - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Chí C phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Huỳnh Văn Hồng - Cán bộ hưu trí
2. Ông Thạch Xa Riết - Giáo viên Trường THPT Võ Văn Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thành, Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn Chí C - sinh ngày 05/3/2004 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Q, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay: ấp Q, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con Phạm Văn B, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1983; Anh chị em ruột có 03 người lớn là bị cáo nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền sự: 01 tiền sự; Ngày 29/6/2023 bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong ngày 03/7/2023.
Tiền án: Không Ngày 11/3/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định khởi tố bị can, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Lê Kim N, sinh ngày 19/2/2008 (Vắng mặt có đơn xin vắng)
Nơi sinh: Bệnh viện Đ
Nơi đăng ký HKTT: ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở hiện nay: ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 và bà Lê Thị H sinh năm 1967; Cùng địa chỉ: ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D là bà Lê Thị H sinh năm 1967, Địa chỉ: ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983 trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn B1, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Văn Chí C, sinh ngày 05/3/2004, nơi thường trú: ấp Q, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long và Nguyễn Lê Kim N, sinh ngày 19/02/2008, nơi thường trú: ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, quen biết với nhau qua mạng xã hội Facebook vào khoảng tháng 12 năm 2022. Đến tháng 01 năm 2023, C và N nảy sinh tình cảm yêu thương nhau.
Ngày 09/8/2023, N xảy ra mâu thuẫn cự cải với gia đình nên muốn thuê nhà trọ sinh sống. N gọi điện thoại cho C chở đến nhà trọ biển hiệu “Nhà trọ tháng Thùy L” thuộc ấp X, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long thuê phòng trọ sinh sống, còn C đi về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 11/8/2023, C đến phòng trọ của N, hai người ngồi nói chuyện tâm sự trên nệm bên trong phòng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì C hỏi N: “Mình quen biết nhau lâu rồi, mình làm chuyện đó được không?” Ngân trả lời “Được”. Sau đó, C và N tự cởi quần áo đang mặc trên người ra khỏi cơ thể, cả hai quan hệ tình dục với nhau khoảng 10 phút thì C xuất tinh trong âm đạo của N, xong cả hai tự mặc quần áo vào. Sau khi quan hệ tình dục thì C ở lại phòng trọ sống chung với N. Khoảng 01 tháng sau, cả hai không nhớ ngày cụ thể, vào khoảng 13 giờ thì C và N quan hệ tình dục với nhau trên nệm bên trong phòng, cũng giống như lần đầu. Đến ngày 06/01/2024, N trở về nhà cha mẹ sinh sống, thấy bụng N lớn bất thường nên cha, mẹ đưa N đến Trung tâm y tế huyện M, tỉnh Vĩnh Long siêu âm, kết quả ghi nhận: có 01 thai sống trong lòng tử cung khoảng 20 tuần 03 ngày. Đến ngày 27/4/2024, N sinh ra một bé trai tại Bệnh biện Đa khoa Vĩnh Long.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 31/KLTDTE-TTPY ngày 31/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Âm hộ: bình thường;
- Màng trinh: rách cũ ở vị trí 1 giờ, 7 giờ, 10 giờ;
- Siêu âm tử cung và phần phụ: 01 thai sống đang phát triển trong tử cung 24 tuần tuổi 01 ngày.
2. Kết luận: Âm hộ: bình thường; Màng trinh: rách cũ ở vị trí 1 giờ, 7 giờ, 10 giờ.
Tại Kết luận giám định số 3587/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Nguyễn Lê Kim N và bé trai (do Nguyễn Lê Kim N sinh ra ngày 27/4/2024 tại Bệnh viện Đ1) có quan hệ huyết thống mẹ - con.
- Phạm Văn Chí C và bé trai này có quan hệ huyết thống cha - con.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Phạm Văn B là cha ruột của bị cáo Phạm Văn Chí C đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị H là cha, mẹ ruột và là người đại diện cho bị hại Nguyễn Lê Kim N số tiền 60.000.000 đồng. Ông B không yêu cầu bị cáo C trả lại. Ông D và bà H không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Ông D và bị hại Nguyễn Lê Kim N có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKSHVL ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố bị cáo Phạm Văn Chí C về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Chí C đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm a, điểm d khoản 2 Điều 145. Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Chí C có mức án từ 03 (năm) đến 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong. Người bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà người đại diện hợp pháp cho bị hại thống nhất theo Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Chí C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long về tội danh và mức hình phạt, thống nhất với lời đề nghị của người đại diện hợp pháp của người bị hại là xin giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, Phạm Văn Chí C đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Vào ngày 11/8/2023 và khoảng tháng 9 năm 2023, C đã có hành vi quan hệ tình dục với N 02 lần, tại nhà trọ biễn hiệu “Nhà trọ tháng T" thuộc ấp X, xã T, huyện V tỉnh Vĩnh Long, dẫn đến N mang thai. Đến ngày 17/4/2023 thì N sinh ra một bé trai. tại thời điểm quan hệ tình dục Nguyễn Lê Kim N khoảng 15 tuổi 05 tháng 23 ngày.
- Mặc dù việc quan hệ tình dục là sự đồng thuận của cả hai, không bên nào ép buộc bên nào. Nhưng hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tình dục đối với người chưa đủ 16 tuổi. Mục đích của bị cáo là lợi dụng sự non nớt về nhận thức của bị hại để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nên cần phải bị xử lý hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. [3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: -Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Chí C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại đã đồng ý; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo không tiền án, gia đình bị hại có đơn yêu cầu xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại tòa hôm nay bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Hành vi của bị cáo Phạm Văn Chí C thực hiện đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong. Bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Đối với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại. Như đã nhận định ở phần trên lời trình bày được chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Chí C phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Chí C 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam ngày 20/3/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Chí C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tạ i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên qua có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Vũng Liêm; - Chi cục THADS huyện Vũng Liêm; - CQĐT Công an huyện Vũng Liêm; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Sở tư pháp; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tuyền |